CÓ NHỮNG BUỔI SÁNG

Buổi sáng một ngày cuối tháng tư, tôi đến trường như bao buổi sáng khác, cổng trường đóng chặt, sân trường vắng lặng không một bóng người, những phòng học im thin thít một cách khó hiểu, cả khuôn viên ngôi trường chìm trong bầu không khí ảm đạm buồn tẻ thê lương; một chút rờn rợn, một chút tiếc nuối, một chút chán chường…Thế là chúng tôi: thầy, cô, bạn bè xa nhau thật rồi, xa không một lời chia tay tạm biệt, không một hàng lưu bút như những học sinh cuối cấp, không một lời hẹn ước trở lại…Mặc dầu những buổi học cuối cùng, ai ai cũng cảm nhận sẽ xảy ra một điều gì đó nhưng không ai có thể hình dung được điều đã xảy ra bất ngờ đến thế.
        Mọi việc đã đổi thay, chúng tôi phiêu bạt mỗi người một phương, người vào Sài Gòn, người tới tận Cao Lãnh Đồng Tháp, người về với ruộng đồng cây trái nông thôn, một số còn ở lại Phan Thiết nhưng cũng không mấy dịp gặp nhau, cũng có những người trôi dạt mãi phương trời Âu Mỹ…
       Chúng tôi trưởng thành trong nỗi lo toan bương chải tìm kế sinh nhai, trăn trở với cuộc sống đầy khó khăn, ít ai nghĩ đến bạn bè thầy cô và những tháng năm đã từng đèn sách chung một ngôi trường. Thời gian cứ thế lặng lẽ trôi qua, chúng tôi lại càng bộn bề hơn khi ai nấy đều có gia đình riêng, ký ức về trường lớp thầy cô bạn bè nếu như có ai nhắc đến chợt nhớ rồi chợt quên. Cuộc sống làm chúng tôi gần như quên đi tất cả...
       Cũng vào một buổi sáng nhiều năm sau đó, về Phan Thiết, cảnh vật đổi thay từng ngày, những nơi đã từng gắn bó thời niên thiếu giờ nhìn lại lạ lẫm quá, không phải sau chừng ấy năm trời không về, nhưng xong công việc rồi đi ngay, chưa hề có ý nghĩ là tìm gặp ai đó của ngày xưa; ngẫu nhiên đến mua một vài thứ lặt vặt, nơi này sao mà quen quá Có phải chú là chú Nhân? - Cháu là cháu của cô Thu? - Dạ - Con của anh Ba Xuân? - Dạ - Mấy năm nay, lần nào về Phan Thiết, cô Liên cũng hỏi thăm và tìm chú nhưng không biết ở đâu. - Chú ở cách đây 25 cây số về hướng Sài Gòn, đến khu vực này thấy có mấy trụ trồng tiêu xây bằng gạch màu đỏ, hỏi thăm là biết nhà chú…Tưởng thế rồi thì cũng sẽ đi vào lãng quên như những gì đã quên trong những năm qua…
       Cũng lại một buổi sáng tháng tư, những người bạn năm xưa bất ngờ xuất hiện tại nhà tôi, tay bắt mặt mừng không lời nào tả siết, hồi ấy chưa bao giờ gia đình tôi có khách một lúc nhiều đến thế (hơn 10 người!!!), căn nhà nhỏ thiếu chỗ ngồi phải trải chiếu dưới gốc xoài, thỉnh thoảng có tiếng “oai oái” vì bị kiến cắn. Qua nhà hàng xóm mượn cái soon to, mượn thêm chén đĩa bát đũa để mời cơm bạn bè, thiếu thốn mọi thứ nhưng tình cảm thật tràn trề, những câu chuyện về cuộc đời từng người kể mãi không nguôi…
       Tôi đã có những buổi sáng như vậy đó, một buổi sáng chia tay với ngôi trường thân yêu trong không gian lạnh lùng đến rợn người; một buổi sáng vô tình bước đến chốn xưa nơi có cái quán tên Thu Dung ghi dấu nhiều kỷ niệm bạn bè mà có lần bạn Cao Thanh Hà mượn chiếc xe đạp của tôi đến ăn chè, không trả tiền lén bỏ đi không kịp lấy chiếc xe; một buổi sáng các bạn tìm ra tôi sau gần 20 năm biền biệt bặt tin.
        Thường thì khi người ta kinh tế ngày một sung túc, cuộc sống đã trở nên ổn định, họa chăng hay chớ gặp lại người quen hỏi thăm vài ba câu lấy lệ, không mấy ai nghĩ đến việc tìm lại những người cũ xa xưa. Nhưng bạn tôi thì ngược lại, vượt hàng trăm cây số bằng mọi cách tìm cho ra bạn bè. Tình bạn ấy thật đáng quý và đáng trân trọng biết bao./.
PhamDinhNhan
*Ngôi nhà mà các bạn tìm ra tôi sau hơn 20 năm mỗi người một phương

HẠNH PHÚC

Hai vợ chồng trạc tuổi 30 trên chiếc xe đạp, gió thổi ngược chiều, người chồng gò lưng thật thấp cố đạp, trán lấm tấm mồ hôi và lưng ướt đẫm, bộ dạng rất mệt nhưng nét mặt vẫn thản nhiên. Người vợ ngồi sau thu mình thật nhỏ như sợ cản gió.

          Mây đen kéo tới, những hạt mưa bắt đầu lác đác rơi, người chồng bất chấp đạp thật nhanh cho qua quảng đường trống tìm nhà trù ẩn.

          Càng lúc càng nặng hạt, trời tối sầm, cơn mưa ào ào ập xuống, hai người chạy vội vào cái chòi bên đường, gọi là chòi chứ thật ra chỉ là một khoảnh đất nhỏ cắm 4 cái cột bằng cổ chân, vách trống không, trên gác mấy tàu dừa che nắng của người bán trái cây cho khách đi đường đã bỏ hoang từ lâu.

          Gió thổi mạnh hơn, hai người đứng tựa vào nhau. Cái chòi rung rinh như muốn bật tung. Mưa mỗi lúc một to, nước xối xả đổ xuống, cả hai cùng ướt. Người vợ lạnh run lập cập nép thật sát vào vòng tay của chồng như chuyền hơi ấm cho nhau...

          Trong cảnh mưa gió, ướt át, lạnh lẽo. Lòng họ thật ấm và hạnh phúc./.
PhamDinhNhan

GẶP THẦY NGUYỄN THÀNH HỔ

Ở Phú Hội, nói đến Ông Bảy Hổ, người ta nghĩ ngay đến một Ông Giáo trên 70 tuổi, dáng cao, to; tính tình vui vẻ; rất văn nghệ, nhạc gì cũng chơi ráo, kể cả hát Karaoke (Tôi đã chứng kiến Thầy hát một lúc hai bài nhưng không biết mệt) mà cũng lại là một nông dân sản xuất giỏi có tiếng trong vùng; ở cái tuổi “xưa nay hiếm” nhưng rất khỏe, trồng hàng ngàn trụ thanh long. Còn ở Rạng, Mũi Né, đặc biệt là cựu học sinh Hải Long khi nhắc đến Thầy Nguyễn Thành Hổ, ai ai cũng phải nghĩ ngay đến một Thầy Hiệu trưởng mẫu mực, thương yêu học trò, tâm huyết với nghề giáo mà cho đến hơn 50 năm sau (tức là bây giờ) học trò vẫn còn yêu mến. Cách đây gần một tháng, tình cờ tôi được gặp Thầy cùng với một số bạn cựu học sinh Hải Long tại Phan Thiết, cùng đi hát karaoke, cùng chuyện trò, cùng đi ăn tối…Tạm biệt, Thầy bắt tay, tôi có cảm giác như mình cũng là học trò ngày xưa của Thầy vậy. Sau đó, chương trình đi thăm Thầy Cô giáo, trong đó có Thầy Hổ được anh Liễu và bạn Mai Chí khởi xướng, có thể nói đây là hai nhà “hoạch định” các hoạt động của cựu học sinh Hải Long bởi trước đây đi Tuy Phong thăm Thầy Cương, họp mặt cựu học sinh… cũng đều do hai nhà “hoạch định” này đề ra cả.
           Chuyến đi khởi đầu từ một buổi sáng, tiếng nhạc chuông điện thoại di động vang lên í éo:
-       Alô. Nghe đây…
          Sau đó là cười cười, nói nói, thì thầm to nhỏ và kết thúc bằng một câu gọn trơn: vậy nha.
          Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh (Thanh Tịnh), ra khỏi con hẻm 250m (cũng chính là con hẻm trong bài: Hàm Thuận Nam – Lời cám ơn), gác lại mọi bận rộn của công việc, vi vu trên con đường mới được nâng cấp bằng lớp bê tông nhựa cách đây 3 tuần rộng mênh mông, phẳng lì; vì mới quá chưa kịp sơn giải phân cách nên các loại xe tha hồ phóng, lạng lách, kèn còi bóp inh ỏi. Tôi rất “hí hửng” được nhận nhiệm vụ làm phó nhòm (chụp hình) và tài xế (xe ôm), hòa với dòng xe cộ hướng về Phan Thiết.
          Vì phải chờ anh Liễu, anh Lang, chị Thúy Hoa đưa Thầy Cương từ Tuy Phong vào, chúng tôi tập trung tại quán cà phê có cái tên là Phương Đông mà bạn tôi thường nói nhầm là Đông Phương trên đường Thủ Khoa Huân, mà đúng là Phương Đông thật bởi cách bài trí rất là… Phương Đông trong một không gian yên tĩnh (tôi không biết phải diễn tả làm sao cho các bạn hình dung được, thôi thì hôm nào ghé là biết liền). Ở một góc khuất về phía sau, nhấp từng ngụm cà phê, thưởng thức những bài hát của thập kỷ 40, 50 nào là Thiên Thai của Văn Cao, Đưa em tìm động hoa vàng của Phạm Duy, Hương Xưa của Cung TiếN… làm chúng tôi như quay lại quá khứ thời còn học Trung học. Đây là quán cà phê mà trước đây có người nói với tôi là “quán cà phê của anh Mai Chí”; nhưng mà có phải là anh Mai Chí làm chủ đâu? Hôm nay trực tiếp nghe từ anh chủ quán nói “đây là quán cà phê do anh Mai Chí sáng lập”, tôi vội nhìn quanh, đúng là mang “phong cách Mai Chí” bề ngoài tưởng như giản dị nhưng thực ra khung cảnh từng góc quán, từng bức tranh, từng vật dụng trang trí đều “có hồn”, đều mang ý nghĩa và rất có chiều sâu… Alô, xe đón Thầy Cương đến Phan Thiết rồi. Thế là chúng tôi bắt đầu chuyến đi thăm Thầy Cô…
          …Cũng không khó khăn lắm để tìm nhà Thầy Nguyễn Thành Hổ, cứ đến Phú Hội, hỏi người đi đường, Có phải Ông ấy hồi trước dạy học? – Đúng rồi – Cứ đi thẳng, qua khỏi cây me “to đùng” bên đường, quẹo phải là nhà Ông Giáo Hổ.
         Đón chúng tôi, người phụ nữ trạc chừng cũng gần 70, dáng hình nhỏ nhắn so với Thầy, với giọng nói “rất Huế”, tôi cũng rất ngạc nhiên biết được Cô là vợ của Thầy. Ngước lên:
         - Anh Cương
          Thầy Cương cười (cũng là nụ cười hiền từ từ xưa đến giờ của Thầy).
           Tôi không thể ngờ được, sau chừng ấy năm trời không gặp nhau, vẫn nhận ra nhau và trong tiếng “anh Cương” chứa đựng cả một niềm vui mừng khôn tả, cả một sự ngạc nhiên mà có lẽ Cô chưa hề nghĩ đây là sự thật. Tôi đọc trong ánh mắt Thầy Cô hình ảnh cả một quá khứ khó quên của “những ngày xưa thân ái”. Riêng tôi thì tôi xúc động thật sự.
          Thế là đồng nghiệp gặp nhau, thầy trò gặp nhau; tay bắt mặt mừng; chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay nói hoài không cạn… Còn cô, đúng là tiêu biểu của người phụ nữ Á đông, rất hạnh phúc khi được “phục vụ” mọi lúc, mọi nơi “khách” của chồng, chúng tôi từ chối lời mời của Cô ở lại dùng bữa cơm trưa với gia đình…
          Có lần, một anh cựu học sinh Phan Bội Châu hỏi Thầy về mối tình đầu, Thầy trả lời rất vui là không thể biết được vì cùng một lúc nhiều cô đến, không phân biệt được ai đầu, ai sau. Thế mới biết ngày xưa Thầy phông độ biết là dường nào (mà bây giờ cũng còn phông độ đấy chứ). Xin phép Thầy, ta cứ tưởng tượng như sau: cách đây nhiều năm, thầy giáo trẻ Nguyễn Thành Hổ với dáng người cao, đẹp trai, hào hoa phong nhã đã “lọt vào mắt xanh” không biết bao nhiêu là cô gái, đã làm cho nhiều con tim “đập loạn xạ” mỗi lần gặp, đã làm “tơ lòng rối tung” khi nụ cười xuất hiện trên môi. Trong những “giai nhân tuyệt sắc” ấy có một nàng (mà theo Thầy) đẹp như nàng Natasha trong tác phẩm “Chiến tranh và hòa bình” của nhà văn Léptônxtôi, với chất giọng Huế trong như pha lê, nhẹ như sương khói bay bổng với những câu hò Vỹ Dạ thực sự đã “đánh gục” chàng trai Bình Thuận, làm cho chàng phải mộng, phải mơ… gắn chặt với nhau cho đến bây giờ và có lẽ là mãi mãi… Tôi hỏi Thầy:
-Thế hồi đó “tín hiệu” nào được phát ra để hai người cùng biết ?
          Một chút im lặng như để nhớ lại. Thầy nói có thể tóm gọn trong câu sau (Thầy nói một câu tiếng Pháp), Thầy Cương dịch ra tiếng Việt, tất cả cùng cười. Tôi nghe không rõ nhưng cũng cười theo. Về nhà hỏi lại, vì đứng ngoài thềm nên cũng chỉ nghe loáng thoáng từ “mains”. Hỏi Mai Chí là biết ngay. Câu đó nguyên văn như sau:
          Je veux demander ses mains (Tôi muốn nắm bàn tay cô ấy)
          Ôi, cách tỏ tình thơ mộng làm sao, lãng mạn làm sao. Tôi nghe nói, hai người yêu nhau, khi nắm bàn tay thì 5 triệu tế bào cùng lúc rung lên làm “tim đập lung tung”.
          Được biết, Thầy Nguyễn Thành Hổ về Trường Hải Long vào khoảng từ năm 1970 cho đến 1972, 1973. Tuy thời gian không nhiều nhưng một trong những việc làm rất ý nghĩa cho vùng đất Mũi né là đã trực tiếp xin Bộ Giáo Dục một triệu bảy trăm ngàn đồng (thời giá lúc đó) và một nhà hảo tâm ở Sài Gòn (Ông Cao Thanh Bình – Gốc Mũi Né) giúp đỡ để xây dựng 2 dãy phòng học, tường rào cho Trường Hải Long (phòng học cũ rất sơ sài, tạm bợ). Cho đến bây giờ, nhiều thế hệ học sinh qua đi, mấy ai biết có một Thầy Nguyễn Thành Hổ đã từng gắn bó với vùng đất Mũi Né, không những đem hết tâm huyết của mình trang bị kiến thức cho học sinh mà còn góp công sức xây dựng cơ sở vật chất cho trường, làm nền tảng vững chắc để tồn tại cho đến ngày nay.
          Không có thời gian gặp nhiều hơn như mong muốn vì gia đình Thầy đang có việc, chúng tôi vội đến rồi vội đi như cơn mưa buổi trưa ở Phú Hội vội ào xuống rồi chợt ngưng lúc chia tay Thầy, cùng với không khí nhộn nhịp của một vùng ngoại ô đang bắt nhịp với thời kỳ công nghiệp hóa, chúng tôi trở lại Phan Thiết. Nếu ai về Phú Hội, qua khỏi trụ sở Xã đi thẳng gặp cây me “to đùng” bên đường, quẹo phải là nhà Ông Giáo Hổ./.
Tháng 9/2010- PhamDinhNhan

CÂU CHUYỆN VỀ MỘT BÀI THƠ

Như bao làng quê hiền hòa khác, làng tôi cũng có cây đa, bến nước, dòng sông, con đò; tuổi thơ của chúng tôi gắn liền với những buổi chiều Thu thơ thẩn dọc theo những bãi lau, sậy câu cá; những buổi trưa Hè nóng nực đằm mình dưới dòng nước mát lạnh trên bến sông; tắm chán rồi thì xếp những con thuyền giấy và thả hồn bập bềnh theo cho đến khi thuyền mất hút sau khúc quanh của dòng sông . Bạn ấy thiệt thòi hơn tôi vì không còn cha sau một cơn bệnh hiểm nghèo, cha mất khi bạn ấy còn bé lắm, chỉ thấy mẹ và những người chung quanh khóc, bạn ấy khóc theo. Một năm sau, mẹ con bồng bế nhau về ở với ngoại đang một mình trong ngôi nhà nhỏ ven bờ đê cuối làng.
          Chúng tôi lớn lên, cùng học một trường, cùng chung một lớp. Một hôm trong giờ học không thấy bạn ấy, đây là điều chưa từng xảy ra, linh tính như báo cho tôi đang xảy ra điều gì đó cho bạn. Tôi bỏ cả giờ học đi tìm, thấy bạn ấy ngồi bó gối khóc một mình cuối sân trường; hỏi ra mới biết mẹ bạn ấy đi lấy chồng, chiều nay người ta rước dâu. Chúng tôi vội vã chạy về đến bến nước cũng là lúc con đò vừa rời bến đưa cô dâu qua sông. Bạn ấy nhìn theo chết lặng đi; trời đổ mưa, những hạt mưa hòa với nước mắt ướt đẫm khuôn mặt bạn ấy chạy xuống đôi bờ vai gầy đang rung lên theo tiếng nấc. Thương bạn quá, tôi cũng khóc.
          Từ đó, bạn ấy trở nên lầm lì, ít nói, ít cười; và cũng từ đó bạn ấy mới thấy thấm thía nỗi đau của thân phận trẻ mồ côi cha và vắng mẹ. Chúng tôi không còn những buổi trưa chơi đùa tắm sông, không còn xếp những con thuyền giấy thả trôi theo dòng nước. Nhiều hôm tôi bắt gặp bạn ấy một mình trong mưa trên bến nước, đôi mắt vô hồn nhìn qua bên kia sông như chờ đợi một điều gì đó….
Trời mưa… thuyền giấy… bập bồng
Ngày mẹ lấy chồng… trời cũng đổ mưa
Thế là từ đó ghét mưa
Con thôi không thả ước mơ vào thuyền
" Trời mưa bong bóng phập phồng…
Mẹ đi lấy chồng..." cách một dòng sông
Bây giờ trời đã vào đông
Hình như ngoại cũng rất trông mẹ về
Nhà mình vẫn ở cuối đê
Vẫn đường đi cũ… vẫn rào, cổng xưa
Dạo này trời đã vắng mưa
Mà sao mẹ vẫn chưa về thăm con
Tưởng rằng cách trở đèo ngang
Nhưng đây chỉ cách dòng sông bến đò
Nhiều khi nhớ mẹ... lại lo
Sang thăm... dượng thấy... lại cho... mà buồn
Những hôm trời vắng mưa nguồn
Ngoại thường ra ngó mây buồn lang thang
Trên sông những chuyến đò ngang
Giúp chăng chở nỗi nhớ sang thăm người??
Sương mù giăng đã đầy trời
Đêm mưa gió rét nghe lòng chơi vơi"...
Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng… con ở với ai?"
          Bài thơ này không biết tác giả là ai, tôi đã đọc nhiều lần và mỗi lần lại lâng lâng trong lòng cảm giác buồn khó tả. Cũng không trách được người mẹ trẻ vì đây là lẽ tự nhiên của cuộc đời; cũng không nói trước được tương lai của đứa nhỏ sẽ như thế nào. Nhưng với hoàn cảnh hiện tại thật đáng thương.
PhamDinhNhan

MÌNH ƠI - LeLanh

HÀMTHUẬN NAM – Lời cám ơn

Tham quan Chùa Cú mà không đến “biệt thự” của Nhân Lành là điều vô cùng thiếu sót (Thuật ngữ trong tường thuật bóng đá gọi là sai lầm chết người), cái tên “biệt thự” do bạnThanh Vân đặt cho; chỉ 4 cây số từ chân núi Chùa Cú trên con đường trải nhựa láng e gọi là Quốc lộ 1A về hướng Phan Thiết rồi quẹo vào con hẻm 250m (xin lỗi nhé) rãi rác phân bò, sỏi đá lởm chởm mà chỉ có xe của Mai Chí, xe của Diệu Hoàng mới đủ can đảm vào. “Biệt thự” ấy cũng tọa lạc trên một mảnh vườn rộng 5 ngàn mét vuông, nói là mảnh vườn cho “oai” chứ thực sự chỉ có vài cây xoài (chưa có trái), vài cây ổi, vài cây đu đủ, vài bụi chuối và vài trăm trụ thanh long; hai bên nhà có hai cây khế, một ngọt một chua mà năm nào cũng thế, từng đàn chim Két lũ lượt kéo về ăn nhưng chưa một lần trả vàng.
          “Biệt thự” được thiết kế bởi một kỹ sư xây dựng “tay ngang” (người chồng), vừa lợp tôn ximăng, vừa lợp tôn kẽm, vừa lợp ngói, nền vừa lót gạch vừa tráng xi măng, cửa thì đủ loại; Gỗ, nhôm, mũ…; cũng có một “dàn” karaoke để cho các bạn ca hét om sòm cho vui cửa vui biệt thự nhưng lâu lâu trở chứng “cà nghẹt cà nghẹt” như người nghẹt mũi .
          Nơi ấy là giang sơn của hai vợ chồng. Người chồng vừa đi làm việc vừa kiêm nông dân, người vợ vừa làm thợ may vừa kiêm đi bán thanh long; có hai người con, một gái một trai; nuôi thêm một con chó, một con mèo, một con chim sáo hót líu lo cả ngày. Tuy cuộc sống giản dị, bình lặng, “cơ hàn” nhưng lại được các Thầy, các anh chị, bạn bè xa gần thỉnh thoảng đến thăm chơi. Ngày qua tháng lại, một hôm nhận được cuộc điện thoại của bạn Hoàng Gia Kế từ nửa vòng trái đất gọi về, có một trang blog trên mạng, người vợ có thêm niềm vui gặp gỡ bạn bè hàng ngày trong “thế giới ảo mà thật” ấy và người chồng tự nhiên trở thành thư ký riêng của vợ, thỉnh thoảng được vợ nhờ gỏ gỏ vào cái máy vi tính,
          Rồi một hôm, nghe tin bạn đến nhà chơi, người vợ rất mừng, dọn dẹp nhà cửa đón tiếp bạn bè mà nội dung cuộc đón tiếp đã được bạn Thanh Vân “tường thuật trực tiếp” đăng trên blog; mấy ngày sau người vợ vẫn còn vui và hình như mãi đến hôm nay vẫn còn vui.
          Viết đến đây, tổng biên tập kiêm kiểm duyệt (người vợ) nói dài quá, thôi đành tạm dừng. Một hôm nào đó, bỏ lại sau lưng những bộn bề của cuộc sống, từ nước ngoài trở về, từ Sài Gòn ra, từ Mũi Né, Phan Rí, Phan Thiết vào ngao du một chuyến Hàm Thuận Nam, cũng nên đi lắm chứ !!! Nếu các bạn tận mắt không thấy hết những gì như mình đã tưởng tượng thì cũng đừng lấy làm ngạc nhiên vì tôi viết theo “kiểu Úc”. Cám ơn các bạn đã phải cố gắng hết mình, chống chọi với từng cơn ngủ gật để đọc hết loạt bài “Hàm Thuận Nam” của tôi.

Đoạn kết – Như một lời cám ơn
          Các anh chị và các bạn thân mến!
          Sau hôm anh Liễu, anh Thiện, các bạn: Thanh Vân, Hào, Kỳ, vợ chồng Bảy B, vợ chồng Thu và bạn Trần Vĩnh Lại từ Sài Gòn lần đầu tiên đến nhà. Lành nói với tôi: anh viết một bài cám ơn các bạn đăng trên blog, tôi cười đồng ý; ngoài ra email cho bạn Hoàng Gia Kế lỡ hứa viết một cái gì đó tham gia trang blog với các bạn. Mấy ngày liền nghĩ mãi mà chẳng ra.
          Một hôm, mắc võng dưới cây khế bên hông nhà nghĩ trưa, nhìn lên những trái chín vàng, mọng nước đung đưa, chợt nhớ bài hát Quê hương (thơ Đỗ Trung Quân) - Quê hương là chùm khế ngọt - Nhà mình cũng có chùm khế ngọt - Ý tưởng chợt loé lên và bắt đầu loạt bài “Hàm Thuận Nam” hình thành mà các bạn vừa được xem.
          Tôi xin phép được ví nhà mình như quê hương Hàm Thuận Nam, nơi ấy ghi dấu mọi thân thương mà các bạn vừa trải qua và để lại, nơi ấy ghi nhận tất cả những tình cảm mà các bạn đã dành cho.
          Bài viết không ngoài mục đích như một lời cám ơn những ai đã và sẽ đến thăm gia đình tôi, cám ơn bạn Hoàng Gia Kế Thùy đã tạo mảnh đất mà tôi đã dùng để bày tỏ. Rất vui nếu như được các bạn đến chơi nữa và cũng mong mãi sẽ là bạn tốt của các bạn./.

Tháng 7/2010 – PhamDinhNhan

HÀM THUẬN NAM – Chùa Cú (3)

Tiếp tục hành trình, sau khi qua một bãi đá gập gềnh là tới một hang động nằm gần ngang với mặt đất, ăn sâu xuống, nhìn vào tối đen như mực. Tôi đã từng xuống hang này một lát sau quen mắt mới thấy khung cảnh lờ mờ hiện ra, nhưng vội lên ngay vì khói hương đến ngộp thở, có điều lạ là gió trong lòng đất theo hang thổi ngược lên. Tương truyền, thưở xưa Sư tổ thiền tu trong hang này trước khi cất Chùa, hang sâu thẳm có nhiều mỏm đá hoa cương tuyệt đẹp, nhiều ngỏ ngách thông ra bờ biển cách đó hàng chục cây số, hàng trăm năm qua, địa chất thay đổi không còn thấy đường đi xuống sâu hơn, đây là điều bí ẩn chưa được khám phá. Lúc “còn trẻ hơn bây giờ”, vào những ngày giáp tết, tôi cũng thường lên núi tìm Hoa Lan, ở đây có một loại gọi là “Thạch lan” vì mọc trên đá, có người gọi là Lan đục bình vì củ của nó bằng ngón chân cái, hình thù như cái đục bình cắm hoa, bên nách củ đâm lên cái ngồng từ 3-5cm, rũ xuống một chùm hoa trắng rực rỡ, đài hoa điểm tím, đỏ trông rất huyền bí nhưng đầy vẻ đài các kiêu sa. Rừng núi mênh mông và bí hiểm, tôi đã từng phát hiện nhiều hang động, có hang lộ thiên đầy Dơi, nhiều hang nằm chìm dưới đất nhìn vào tối đen ẩm ướt. Cách chân núi khoảng ít cây số, có một xóm nhỏ người Chàm (mặc dù cả khu vực này không hề có dấu tích của người Chàm xưa). Tương truyền, lúc Vua Chàm thất trận mất nước đi qua vùng này, có chôn một kho báu trên núi, để lại một nhóm người canh giữ, qua hàng trăm năm, nhiều thế hệ đã qua đi, nơi chôn dấu thất truyền, không ai còn biết vị trí kho báu chỗ nào nữa.
          Ra sau Chùa khoảng trăm mét, một kiệt tác có thể nói có một không hai ở vùng Đông Nam Á là pho tượng Thích Ca Mô Ni nhập Niết bàn, nằm nghiêng, gối đầu lên tay, dài 49 mét, cao 11 mét, lưng tựa vào vách núi, mặt hướng ra biển Đông (do kiến trúc sư Dương Đình Ý kiến tạo, xây dựng vào năm 1960). Đây là công trình đồ sộ, bao dung nơi chốn sơn lâm, tịnh mịch, an cư, tượng trưng “đủ hình tứ lục và bảy chúng Phật tử” theo triết lý đạo Phật.
          Một kiệt tác khác cũng rất nổi tiếng là cụm tượng Tam Thế Phật độc đáo theo lối kiến trúc kỹ xảo gồm tượng A-di-đà cao 7m, độ lượng, bao dung, ưu ái trần gian; tượng Quan Âm và Thế Chí cao 6m được kiến tạo bằng đá hoa cương biểu tượng của lòng từ bi, hướng thiện, cầu siêu…cách khu vực này 100m là tượng Phật Bà…
          Ta cứ tưởng tượng, vào một đêm rằm tháng giêng, khi khí trời còn se lạnh của những ngày sau tết, đem theo cái đàn guitar, tụ tập ở khoảnh đất nơi rừng cây trước tượng Phật nằm, kiếm ít que củi khô, nhóm thành bếp lửa, vừa nấu nước vừa sưởi ấm (như các anh chàng cao bồi trong những đêm lạnh giá nơi hoang mạc vùng viễn tây Hoa Kỳ), pha 1 ca cà phê, 1 ấm trà, vừa thổi vừa nhắm nháp trong cái lạnh của núi rừng nơi độ cao khi màn đêm buông xuống, không gian tối om, chỉ còn lập lòe bếp lửa, ngon đến kỳ lạ (nhà hàng 10 sao chưa chắc được ngon đến thế); phím đàn được ngân lên, khe khẻ hát cho nhau nghe, tuyệt vời không thể nào diễn tả nỗi. Vài tiếng đồng hồ sau, một vầng sáng của ánh trăng từ từ xuất hiện nơi rừng cây sau bức tượng Phật nằm, lung linh, huyền ảo; con người, cảnh vật và khí thiêng của chốn từ bi như hòa quyện vào nhau làm cho ta quên đi thế tục, bước vào chốn thâm sâu nào đó…Càng về khuya, trăng càng sáng, không gian càng tịch mịch, linh thiêng, khí trời càng lạnh, cứ quanh bếp lửa mà ngủ. Khi những tia sáng đầu tiên trong ngày lóe lên, khí lạnh từ trong đá bốc ra tạo thành những đám mây lơ lửng dưới chân ta giống như đang ở chốn thiên đình.
          Chùa Cú còn nhiều chi tiết rất hay trong từng gian thờ, từng pho tượng, từng cái am; nhiều thắng cảnh đẹp và nhiều điều huyền bí, nhiều bí mật tôi không viết hết ra đây, chờ các bạn đến chiêm ngưỡng và khám phá; Ta tạm biệt ở đây thôi. Lần này “hạ san” cũng theo kiểu Tề thiên “đằng vân” về cho nhanh, vào ca-bin của cáp treo thích thú ngắm nhìn những ngọn cây trôi qua dưới chân và để biết thế nào là “lơ lửng trên chín tầng mây”, chỉ cần 7 phút, có mặt tại chân núi, vào nhà hàng thủy tạ cáp treo, làm mấy món cho biết ẩm thực ở xứ này, cũng chẳng có gì đặc biệt ngoài món thịt gà nấu lá giang, nhưng không thể nào ngon bằng gà lá giang bạn Thanh Vân nấu tại nhà Lành chiêu đãi bạn Trần Vĩnh Lại và các bạn vừa rồi. Phải chi có món thịt Dông băm nhỏ xào lăn xúc với bánh tráng nướng thật vàng, nhai dòn tang mà có lần anh Hữu Khánh chiêu đãi tôi tại nhà hàng Gềnh Mũi Né thì tuyệt biết mấy./.
PhamDinhNhan

HÀMTHUẬN NAM – Chùa Cú (2)

Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc cổ của Phật giáo Phương Đông, có nhiều cột, kèo, xuyên, trính; chạm trổ họa tiết tứ linh “long, lân, quy, phụng”; mái lợp ngói âm dương theo bảy góc uốn lượn hình rồng thể hiện sự thanh thoát trần gian, an hòa, trầm mặc; với bàn tay khéo léo của các nghệ nhân đã tạo ra một kiệt tác về kiến trúc cổ độc đáo của Phật giáo còn lưu lại đến ngày nay. Theo tài liệu, Chùa được hình thành vào khoảng năm 1878-1880 do Sư Tổ là Trần Hữu Đức, tỉnh Phú Yên đến thiền tu.
          Bước vào cửa Chùa, giữa gian Chính điện là tượng Phật đồ sộ được đặt trên bể thờ tương đối cao trước một khoảng nền rộng nghi ngút khói hương, ta tiếp tục rẽ qua hướng tay mặt, một dãy nhà dài với nhiều bộ ván được kê ngay ngắn, sạch sẽ là nơi cho khách thập phương có nhu cầu nghĩ lại qua đêm; tiếp đến là dãy nhà ăn với bếp lò nấu bằng củi, bàn ăn cũng sạch sẽ, tươm tất. Ở đây lúc nào cũng đầy ắp gạo, muối, tương, chao do khách thập phương đưa đến cúng; ai thấy đói bụng cứ “vô tư” tự nấu mà ăn; bên cạnh đó là hai dòng suối nhỏ uốn quanh, nước trong vắt chảy ra từ lòng núi. Nghĩ một chút, nhấp thử một ngụm nước mới thấy thế nào là vị ngọt mát của hương sắc núi rừng.
          Giỗ tổ khai sơn ở Chùa được tổ chức ngày mồng 5 tháng 10 âm lịch, vào ngày này thường thì khách ở xa như Sài Gòn và các tỉnh miền Đông, Miền Tây tới rất đông. Tôi nhớ vào năm 1986, (cách nay 24 năm) lần đầu tiên cùng mấy người đồng nghiệp lên Chùa vào ngày giỗ Tổ, người rất đông, cứ nghĩ thế nào cũng có đồ cúng thí nên không đem theo thức ăn, tình cảnh này coi chừng bị nhịn đói, chúng tôi bố trí mỗi người chen chân đứng trước mỗi am nhỏ, hễ đến giờ Ngọ cúng xong là nhanh tay vơ đại cái bánh ăn “cầm hơi”; thế mà không sao nhanh hơn người khác được; cả bọn đói meo kiếm gốc cây ngồi, chợt một người đồng nghiệp phát hiện có người quen vừa đi qua đem theo một cái cặp như cặp sách học sinh cấp 3, trong đó đựng quần áo để nghĩ qua đêm ở Chùa, anh ấy đến mượn cái cặp và kể “tình cảnh” của chúng tôi; một diệu kế được hình thành, người cho mượn cái cặp vào Chùa báo là có đoàn cán bộ Ủy ban hành chánh Quận lên thăm Chùa, còn chúng tôi chỉnh đốn “xiêm y”, mặt mày cố tươi tỉnh lên, tôi được phân công xách cái cặp y như là cán bộ thật. Chúng tôi được mời vào Chính Điện, tiếp đón ân cần, ăn một bữa cơm chay thỏa thích, sau đó nháy với nhau vội vàng cáo từ xuống núi ngay vì sợ bị phát hiện. Trên đường về mỗi người một câu cười quên cả mệt nhọc.
          Vì sao Chùa lại có cái tên Linh Sơn Trường Thọ ? Tương truyền rằng Sư Tổ khai sinh ra Chùa là người thiền tu huyền bí, quanh năm chỉ ăn hoa quả, cây rừng để tu hành nơi chốn Cõi Phật, có tài bốc thuốc, chữa bệnh, cứu người. Vào thời Vua Tự Đức, Hoàng Thái Hậu tức là Bà Từ Cung (mẹ của Vua) bị bệnh nặng, các quan ngự y thuốc thang nhưng không khỏi (bó tay), Vua xuống chiếu cho tìm các danh y trong nước, Sư Tổ nghe tin đã cho các đệ tử đem linh dược quý về kinh tiến Vua, Thái Hậu khỏe hẳn; Vua Tự Đức ghi ơn bằng việc ban tặng cho ngôi Chùa cái tên quý giá “Linh Sơn Trường Thọ” từ đó.
PhamDinhNhan

HÀM THUẬN NAM – Chùa Cú (1)

Tạm biệt vùng biển, mời các bạn lên miền núi theo con đường mới được tráng nhựa mấy năm gần đây nhưng nhiều đoạn đã bị xuống cấp, ổ gà liên miên (có lẽ do xe chở khách du lịch dập dìu qua lại nhiều quá) để chiêm ngưỡng và hòa mình với cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ của một danh lam có cái tên là Chùa Núi hoặc là Chùa Cú cũng được; trong sách vở, giấy tờ có tên gọi là Linh Sơn Trường Thọ. Tôi thì thích gọi là Chùa Cú cho nó dân dã, bình dân học vụ; gọi là Chùa Núi sợ nó trùng tên vì ở Việt Nam hầu hết các Chùa đều ở trên núi, còn gọi là Linh Sơn Trường Thọ thì nó văn hoa quá. Ta thống nhất gọi nó là Chùa Cú.
          Tọa lạc trên đỉnh núi với độ cao gần 700 mét so với mặt nước biển trong một không gian trầm mặc với khung cảnh hùng vỹ bao la nhưng đầy thơ mộng giữa rừng cây cổ thụ đại ngàn, xanh thẳm, bốn mùa sương phủ, khí hậu trong lành, mát mẻ; thảm thực vật rất phong phú, đa dạng có nhiều cây cỏ để làm thuốc; động vật hoang dã quý hiếm còn rất nhiều.
          Tôi và các bạn làm một chuyến “cuốc bộ” lên núi đi, cho dù hiện nay đã có cáp treo, vì đi bộ sẽ được nhiều “công ích” hơn, giống như Thầy trò Tam Tạng chỉ cần “phi thân” cái vèo là tới Thiên Trúc ngay nhưng như thế ai mà chịu giao Kinh, phải bị hành hạ đến 81 cái nạn, bầm dập, trầy da tróc vảy thì Kinh mới có giá trị chớ. Nhắc đến Thầy trò Tam tạng (ti vi vừa chiếu xong), tôi lại nhớ đến câu chuyện vui: Sau khi đến Thiên Trúc, Phật tổ Như Lai phán –Ta ghi nhận toàn bộ công lao của các ngươi, sống đi chết lại 81 lần, coi như là sứ mạng đã hoàn thành, nay Ta giao Kinh cho các ngươi, nhớ là về phải truyền bá Kinh của Ta đến toàn thể đất nước Đại Đường –Vậy các ngươi có đem theo cái USB không, để Ta coppy cho –Tề Thiên đứng bên cạnh lầm bầm –Biết như thế này tui vào internet download cho nó nhanh, khỏi mất công vất vả bao nhiêu năm trời.
          Từ chân núi, mỗi người kiếm một khúc cây làm gậy vừa đi vừa chống cho nó khỏe vì đường chỉ là những khoảng trống nhỏ ven theo vách đá và rừng cây, vô ý một chút dễ bị trượt chân nhất là những người lần đầu leo núi, sau hơn một tiếng đồng hồ chống chọi với gập gềnh, khúc khỷu, vòng vèo quanh co, trồi lên sụp xuống, vả mồ hôi, sôi nước mắt cuối cùng cũng đến chân dốc cao nhất có tên là Dốc Bằng Lăng, ở đây có vài vĩa đá lớn tương đối phẳng phiu để ta ngồi nghĩ, giải khát, lấy sức trước khi qua cửa ải gian nan cuối cùng đến “Đất Phật”. Tiếp tục hành trình, lúc này không nói là đi nữa mà lê từng bước cho đến khi hai tai lùng bùng, miệng khô đắng nghét xem như là thành công, đi thêm khoảng 100 mét đường tương đối bằng phẳng, ít dốc là tới cổng Chùa, nhìn lên đúng là cả một quần thể di tích đạo Phật lung linh trên lưng chừng núi, dưới là mây trôi lơ lửng, ẩn hiện sau những hàng cây cổ thụ phải 2 người giang tay ôm mới hết, chưa hết đâu lại phải tiếp tục leo thêm mấy chục cái tam cấp bằng đá nữa mới coi như là đến đích. Con đường tôi và các bạn vừa đi khởi đầu là con đường mòn ngắn nhất mà những Thầy tu trên Chùa và khách thập phương thường xuyên lên xuống, trước khi có cáp treo, thiện nam tín nữ gần xa đã đóng góp tiền bạc công sức để ghép những phiến đá thành những bậc thang nhưng không thể theo ý muốn mà dựa vào tự nhiên nên không theo thước tấc quy cụ nào cả, so ra chúng ta đi là dễ dàng hơn các năm trước nhiều. Tôi đã gặp từng đoàn người già trẻ trai gái rán sức vất vả để lên viếng cảnh Chùa, đốt hương lễ Phật; một cụ già nằm trên chiếc võng có 2 người khiêng, hỏi ra mới biết cụ đã 90 tuổi từ hàng trăm cây số đến đây mơ ước một lần duy nhất trong đời được đặt chân đến Chùa. Đúng là chỉ có niềm tin tâm linh mới tạo cho người ta có một sức mạnh vô hình to lớn như thế. Vì khách thập phương thường xuyên lên xuống Chùa nên ở đây tự hình thành một tốp người làm nghề khiêng, vác, gánh đồ đạc lên núi làm kế sinh nhai. Gần 10 năm nay, ở huyện năm nào cũng tổ chức Giải leo núi, vận động viên các tỉnh miền Nam đều dự thi. Tôi mà ở trong Ban tổ chức thì sẽ trao Huy chương vàng cho người gánh đồ đạc lên Chùa, vì có ngày phải đi đến 2, 3 chuyến, còn vận động viên mỗi năm chỉ có 1 lần.
          Có cô bạn học từ Sài Gòn ra đố tôi: -Sau khi lên được tới Chùa, Bạn biết mình thấy gì? Tôi nghĩ đến cảnh hoành tráng của thiên nhiên, cảnh đồ sộ của Chùa,chưa kịp trả lời,cô ấy đáp luôn:" thấy mệt " !
PhamDinhNhan

HÀM THUẬN NAM – Món ăn đặc trưng

Hải sản ở đây cũng rất là phong phú, đa dạng: ngêu, sò, ốc hến, tôm, cua, cá, mực, ghẹ… ở Mũi Né có thứ gì ở đây có thứ nấy; ngư dân đánh bắt trong ngày, tươi xanh. Đặc biệt là cá Bò Hòm, một loại cá bằng bàn tay, hình khối tam giác, da cá dày cứng, thịt trắng và ngọt lịm như thịt gà đi bộ, gà thả vườn. Để có hương vị ngon của loại cá này, đầu tiên phải được hấp sơ, sau đó đưa lên lò than nướng liu riu cho đến khi bóc da ra, thịt có màu vàng sậm hơi nâu, tỏa ra mùi thơm rực làm cho vị giác, khứu giác của những người ngồi xung quanh phải hoạt động tối đa cũng là lúc có thể dọn ra để thưởng thức. Thịt cá phải được cuốn với bánh tráng mỏng, kèm theo rau sống, không thể thiếu rau thơm và những lát mỏng đậu bắp; nước chấm phải là nước mắm nhỉ cá cơm xuất xứ từ Mũi Né dằm với chính lá gan của cá mới trọn vẹn được hương vị của loại cá này.
          Các bạn cứ hình dung, một buổi nào đó, trong cái mát dịu se se lạnh của biển cùng với bạn bè, người thân, gia đình bên đĩa cá Bò Hòm đang bốc khói (không cần phải vào nhà hàng sang trọng làm gì cho nó mất đi cái vẻ hoang sơ của vùng này, ngồi “chài bài” dưới nền gạch cũng được, cho nó thoải mái). Từng miếng thịt cá nóng hổi thơm phức được xé ra, cuốn với gia vị, chấm với nước mắm dằm gan cá, đưa vào miệng, nhai từ từ mới thấy hết vị đậm đà của cá pha lẫn một chút gì đó nồng nồng của rau thơm, chát chát dòn dòn của đậu bắp và đặc biệt là cái ngót ngót hơi đăng đắng của gan cá thấm dần từ lưỡi vào trong cơ thể mà vài ba ngày sau cái hương vị kia như còn đọng lại đâu đây.
Một món ăn khác đầy hương vị của biển, không cầu kỳ, mang tính dân dã, hoang sơ là món “Hàu”, một loại hải sản bám vào các bãi đá, giống như con sò nhưng xù xì, xấu xí mà thịt lại vô cùng ngon.
         Buổi chiều, khi thủy triều xuống tới mức thấp nhất, lòi ra những vĩa đá ven bờ, cùng bạn bè tới đây; thoạt đầu mới nhìn cũng màu đen sạm như đá, nhưng chú ý mới thấy chúng bám đầy dọc theo những rìa đá. Thưởng thức theo “phong cách” sau đây mới là “kiểu Úc”: Dùng một khúc ngắn kim loại như cái búa đóng đinh chỉ của thợ mộc cũng được, khẻ gõ vào cái vỏ cho bể ra, trước mắt bạn hình thù như một cái phểu lộ ra trắng ngần, trong ấy thịt Hàu (trông giống như thịt con sò) bằng đầu ngón tay út, tươi ngon; chỉ cần nhỏ vào 2, 3 giọt chanh tươi cho thịt Hàu săn lại, rắc một xíu nuối tiêu, dùng cái muỗng cà phê múc lên, đưa vào miệng kèm theo một vài cọng rau răm, mắt lim dim, nhai từ từ sau đó thấm môi bằng một ngụm nhỏ rượu nấu bằng gạo nếp… vô cùng tuyệt; không tanh, vị ngon ngọt đặc biệt của món ăn này không thể nào diễn tả bằng lời, chỉ có ai đã từng ăn mới cảm nhận được cái tuyệt vời của nó.
          Nếu ai không thích thưởng thức theo “kiểu Úc” thì mời thưởng thức theo phong cách của “ta”. Cứ đằm mình dưới biển cho đến lúc lạnh cóng, bụng cồn cào đói, lên bờ ngồi chung quanh nồi cháo Hàu nóng nghi ngút, cay xè, xì xụp húp cho đến vã mồ hôi, chảy nước mắt… mới thấy đã làm sao. Còn nhiều và rất nhiều những món ăn từ hải sản rất “độc chiêu” mà cách thưởng thức cũng như cách chế biến rất đặc trưng chỉ có ở Hàm Thuận Nam (xin “nổ” một chút cho nó khí thế). Tôi không kể về những món ăn nữa để các bạn tha hồ tưởng tượng cho nó thú vị.
PhamDinhNhan

HÀM THUẬN NAM – Quê hương tôi

Tôi sinh ra và lớn lên ở vùng đất Hàm Thuận Nam, cái tên nghe sao “lạ hoắc”, mà đúng là lạ thật vì nó mới được “khai sinh” từ sau năm 1983, vùng đất giáp ranh giữa Tỉnh Bình Tuy và Bình Thuận. Ngày xưa, ở đây khô cằn, sỏi đá, kế sinh nhai chính là làm rẫy, cũng có cái bờ biền dài trên 20 cây số, quanh năm suốt tháng chỉ “có cái nắng, có cái nóng, có cái gió” và có cả bụi cát (hát theo kiểu Siu black). Thế rồi một hôm, mấy ông doanh nghiệp từ Sài Gòn ra bắt chước Rạng, Mũi Né, Hòn Rơm từ từ biến thành một dãi dài những khu du lịch, lại có cả khu du lịch sinh thái nữa chứ, kiến trúc muôn màu muôn vẻ, đủ cả từ cổ tới kim; vô cùng đẹp. Tuy ở đây chưa có nhiều resort, nhiều khu nghĩ mát như Mũi Né Hòn Rơm nhưng những gì hiện có cũng đủ nói lên “trên cả tuyệt vời”, chẳng thế mà du khách sau khi đến đã đặt cho cái biệt danh “Đà Lạt trên sa mạc”. 
          Không tin ư ? Cũng được vì đã có câu “mắt thấy, tai nghe… hoặc là có thấy mới tin”. Thế thì mời bạn làm một chuyến về quê hương tôi đi, sẵn sàng đón tiếp các bạn và tình nguyện làm hướng dẫn viên miễn phí. 
          Chỉ cần rời khỏi Thành phố Phan Thiết theo hướng Sài Gòn chừng 20 cây số đường chim bay, dọc theo bờ biển, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt bạn là những bãi cát trắng ngần với những hàng phi lao xanh thẳm; những bụi dứa dại lẫn lộn với cây nhãn rừng quấn chặt lấy bờ cát mang đầy tính hoang sơ. Biển ở đây vô cùng đẹp, rất sạch; nước xanh biêng biếc, êm đềm; thỉnh thoảng nhô lên những bãi đá không biết từ bao giờ và do ai đặt cho những cái tên mang hình dáng rất thật: Bãi yên ngựa (như cái yên trên lưng ngựa), Bãi đá nhảy (không nằm thành từng bãi mà rải rác như đá nhảy từ nơi này đến nơi kia), Bãi đá dăm (giống như có ai đó chẻ bãi đá thành những miếng dăm nhỏ)… 
          Ở đây bạn có thể ngã mình dưới những tán dù, ngắm biển xanh bao la; đu đưa theo nhịp võng giữa rừng phi lao bạt ngàn; thức trắng đến phờ người, khan tiếng với những đêm lửa trại hoặc ngồi ung dung câu cá trên những rìa đá hoặc rạo rực đón tia nắng đầu tiên trong ngày nhô lên từ mặt biển hay thả hồn trong yên tĩnh để ngắm hoàng hôn mờ dần sau những đồi cát…Bạn đã thấy hấp dẫn chưa ?...?...? Tiếp tục đi về hướng Nam, bạn không thể bỏ qua ngọn Hải đăng trên một hòn đảo nhỏ chỉ cách bờ biển khoảng 500 mét nằm giữa bãi đá lớn với chiều cao 65 mét, đây là ngọn Hải đăng cổ nhất, cao nhất ở Việt Nam do kiến trúc sư người Pháp Snavat thiết kế xây dựng từ năm 1889 bằng đá hoa cương với 184 bậc thang xoắn ốc. Đây vừa là biểu tượng, vừa là niềm tự hào của quê hương tôi đó. Từ đỉnh Hải đăng lồng lộng gió phóng tầm mắt ra chung quanh, một bên là rừng cây xanh thẳm, một bên là biển cả mênh mông. Trước thiên nhiên bao la, con người như nhỏ bé lại, bay bỗng, hòa lẫn vào không gian…
          Thủy triều ở vùng biển này có nét rất riêng; hàng năm, sau tết Nguyên Đán có từ 2 đến 3 ngày nước xuống cạn kiệt, bạn có thể đi bộ từ bờ ra Hải đăng mà không phải đi bằng tàu như những ngày khác trong năm. Tôi đã gặp một đoàn du khách người nước ngoài, họ không thích đi tàu mà bám chung quanh cái thúng chai, mình chìm dưới nước để cho 1 tàu đánh cá kéo ra, tham quan xong, kéo vào; đi biển kiểu này mới độc đáo; có lẽ đi biển kiểu Úc (vì tôi thấy trên tivi quảng cáo hễ cái gì khác bình thường là kiểu Úc: ăn kiểu Úc, uống kiểu Úc…)
          Biển ở đây cũng rất đặc biệt giống như thủy triều mà các vùng khác hiếm thấy, thường thì vào khoảng đầu tháng 9 dương lịch, từng đàn cá đủ loại, lớn có, nhỏ có cùng với một loài Tảo màu đỏ trôi dạt vào bờ; theo ngư dân thì những con cá bơi gần Tảo đỏ sẽ bị say, lờ đờ, sóng biển cuốn vào, nhưng chỉ một lát sau thì cá trở lại bình thường như chưa hề có chuyện gì xảy ra, không độc hại. Cứ thế, người dân địa phương và du khách tha hồ dùng tay không, có khi vớt cả rỗ đem về tự chế biến và thưởng thức ngon lành. Nếu có bạn ở đây, mình chỉ cần một bó củi đốt thành than hồng, nướng lên, nhắm với rượu gạo thôi; ngon tuyệt vời…
PhamDinhNhan