CÁI ĐIỆN THOẠI QUẸT QUẸT

Con trai thay cái điện thoại mới để dễ truy cập dữ liệu cho công việc và để có hình thức bề ngoài trong giao dịch làm ăn. Tôi mừng lắm vì được thừa hưởng cái điện thoại cũ nó bỏ ra, tuy cũ của nó nhưng mới của mình, hơn nữa là loại điện thoại cảm ứng theo mốt hiện nay, tức là loại quẹt quẹt có chụp hình, quay phim, ghi âm, nghe đài và nhiều chức năng khác thay cho cái bấm bấm cùi bắp tôi đang xài, thuộc vào loại bỏ ngoài đường chẳng ai thèm lượm.
Đến công sở làm việc thỉnh thoảng lấy ra tập quẹt quẹt và cũng để khoe mình có điện thoại đời mới (hình như có vài người tấm tắc thán phục). Nhưng khốn nỗi là mỗi lần có ai điện tới quẹt hoài nhưng không tác dụng. Rốt cuộc người ta cần mình thì mình lại phải tốn tiền gọi lại. Về nhà, đứa con gái phải huấn luyện cho một khóa quẹt mới thành công.
Tôi nhớ bạn Lãn lần đầu có cái quẹt quẹt mới dỡ khóc dỡ cười, đang dự cuộc họp với các quan chức và giới doanh nhân, chuông điện thoại reo, quẹt kiểu gì nó cũng chẳng chịu im, hoảng quá nhét xuống mông thế mà nó vẫn inh ỏi, mắc cở quá đỏ cả mặt. Có lần bạn Bích Loan nhắn tin, tôi cũng nhắn tin lại nhưng chữ thì nhỏ, ngón tay thì to, quẹt chữ này dính chữ kia, quẹt tới quẹt lui hoài tháo mồ hôi mới được mấy chữ; thôi thì alô quách cho xong. Tôi nói không biết nhắn tin, bạn Bích Loan không tin cứ ngỡ tôi nói giỡn chơi. Bây giờ thì quá thành thạo, quẹt kiểu gì cũng được, không còn là vấn đề nan giải nữa. Mỗi lần đi làm về, rút ra, để trên bàn ở nhà sau, bên cạnh máy vi tính, đồng hồ, linh kiện linh tinh cho việc giải trí cá nhân, làm việc, xem blog…
Một buổi chiều, cần gọi cho đứa cháu, tìm hoài chẳng thấy cái điện thoại đâu cả, cách đây vài tiếng mới nói chuyện với thằng em, để ở vị trí nhất định trên bàn; nhờ bà xã gọi thử, chỉ nghe đầu bên kia vang lên “ò í e, hiện số máy này tạm thời không liên lạc được” sau đó thì im re, mất tín hiệu luôn. Thế là mất rồi…  Người khách duy nhất đến nhà chiều nay là đứa học sinh lớp 10 tới may áo dài, cửa trước đóng nên đi vào cửa nhà sau để lên nhà trên, khi ra về lại phải ra cửa sau để lấy dép, ngang qua bàn thấy cái điện thoại ngó trước ngó sau không thấy ai, thuận tay bỏ vào túi luôn. Việc này chỉ suy đoán nhưng có căn cứ và lôgich hẳn hoi hơn nữa mấy hôm sau nó lúng túng chối khi bà xã hỏi nó, không bắt được tại chỗ đành bó tay, thế là xong.
Tối nay vừa may vừa ấm ức, mình thì cặm cụi tranh thủ kịp thời may cho xong để ngày mai nó có bộ áo dài mới đến trường cho bằng bạn bằng bè, còn nó thì lại lấy mất cái điện thoại của mình. Đời sao mà oái oăm đến thế./.
PhamDinhNhan

CHUYỆN NGÀY 20/10

Mỗi năm vài ba lần, để chị em Phụ nữ có dịp gặp gỡ giao lưu, đơn vị tôi tổ chức khi thì dã ngoại vui chơi, khi thì nhà hàng ăn uống tiệc tùng. Lần này được gặp nhau tại đơn vị nhân ngày 20/10, không những các chị đang tại chức ở cơ quan mà các chị ở nhà tức là phu nhân của các đấng phu quân đang làm việc cũng đều được nhận thư mời bằng giấy màu hồng đặc trưng cho phái đẹp hẳn hoi, tất nhiên có cánh đàn ông tham dự để không khí vui vẻ được nhân gấp đôi. Các chị được mời lên vị trí trang trọng nhất trong hội trường, mỗi người được tặng hoa hồng tươi đỏ thắm tượng trưng cho tình yêu của giới mày râu, được tặng quà đựng trong chiếc hộp nhỏ xinh xinh xanh đỏ tím vàng, được tặng phong bì trong đó có cánh thiệp ghi lời chúc đẹp nhất như khẳng định những lời đó là sự thật. Mỗi chị phải tự đọc thật to lời chúc ghi trong đó để mọi người cùng nghe và vỗ tay chúc mừng. Cuối cùng là bữa tiệc thịnh soạn do cánh đàn ông nấu nướng, không thể thiếu món “đuôi bò hầm”, đặc trưng của đơn vị tôi.
Hôm sau, thăm dò dư luận để rút kinh nghiệm cho những lần tới, tất cả rất vui, rất thích, thích nhất là vừa được chúc, vừa được tặng hoa, vừa được tặng quà và vừa được…ăn, yêu cầu cứ đà này mà phát huy... Tôi hỏi một chị:
- Chồng em có tặng hoa nhân ngày Phụ nữ được tôn vinh 20/10 không?
- Từ hồi não hồi nào đến giờ chưa bao giờ nhớ chứ đừng nói đến tặng. Mà nếu hôm nay tự nhiên anh ấy tặng, chắc em xúc động ngất xỉu chết ngay tại chỗ mất!!!
Một chị khác kể:
- Ở cơ quan về, đứa con gái từ Sài Gòn gọi hỏi Ba có tặng quà cho Mẹ nhân ngày 20/10 không? Em bật loa ngoài cố ý cho chồng em nghe và trả lời: -không! -Như thế là không được, phải nói Ba tặng quà cho Mẹ! -Anh có nghe con nói gì không? Tiếng trong phòng vọng ra: -Ngủ rồi! Không nghe gì hết!!!
Anh chàng tuổi sồn sồn thì nói: Vợ em bận, không tới cơ quan tham dự được, tuy nhậu nhẹt mãi tới hơn chín giờ đêm mới về tới nhà nhưng không quên đưa hoa và quà của đơn vị tặng về cho vợ, trên đường đi đứa con gái đang học xa gọi điện nhắc ngày 20/10, em nói con yên tâm, có rồi. Sau đó nó lại gọi báo cho mẹ biết Ba sẽ tặng quà ngày Phụ nữ. Vào nhà, vừa trao cành hoa hồng với nụ cười dịu ngọt và khuôn mặt vô cùng trìu mến, chưa kịp mở miệng, vợ quất ngay một câu: “Con nó nhắc mới nhớ phải không?”. Bao nhiêu lời yêu thương sợ quên mà anh nhẫm đi nhẫm lại thuộc làu làu trên đường từ cơ quan về  dự tính sẽ nói với vợ một cách êm đềm lãn mạn nhất phút chốc quên sạch cả. Tưởng cành hoa kia sẽ được vất ngay vào sọt rác, nhưng sáng hôm sau thấy được cắm vào lọ để ngay ngắn trên bàn. Thế là vui và hạnh phúc lắm rồi.
Còn người Phụ nữ ở nhà tôi thì sao??? Tất nhiên là được tặng và được… ăn như như các chị khác rồi. Đặc biệt là được vinh dự mời lên phát biểu vì đơn vị quan tâm, mình phải đại diện chị em cám ơn chứ! (việc này Ban tổ chức quên mất, không ghi vào kịch bản, người phát biểu nhắc nhỏ tôi nói em-xi bổ sung thêm vào chương trình). Và còn một việc vô cùng hệ trọng nữa, câu chúc trong cánh thiệp được đọc dõng dạc rõ mồn một giữa ba quân thiên hạ nguyên văn như sau: “Dù có phải chung thân cùng em, Anh xin được ngàn lần mong muốn!!!”. Xem như số phận cuộc đời tôi đã được định đoạt từ giây phút này rồi đây còn gì!!!./.
PhamDinhNhan

QUÁN 3 CÁ BỐNG

Phát hiện được khu vực này đầy tiềm năng du lịch, nhiều năm gần đây, dọc bờ biển từ xã Thuận Quý đến xã Tân Thành thuộc huyện Hàm Thuận Nam nhiều khu Resort đẹp và sang trọng được xây dựng. Có thể kể đến: Đồi Sứ, Ánh Dương, Sài Gòn Suối Nhum, Rock Water Bay, Hòn Lan, Việt Pháp…
          Xen lẫn với những khu Resort cao cấp nói trên, những quán ăn bình dân cũng đua nhau mọc san sát, cung cách phục vụ và cảnh quan dân dã, hoang sơ, giá cả phù hợp với những người thu nhập bình thường nhưng chất lượng thức ăn không thua gì nhà hàng trong các khu Resort, cũng đầy đủ hải sản tươi sống: tôm, cua, mực, ốc và nhiều loại cá đặc sản của vùng biển ở đây.
          Có một quán bình dân với cái tên là “Quán ăn Ba Cá Bống”. Đến đây, phải hết sức thận trọng vì chỉ cần đọc tấm biển quảng cáo dựng trước quán thôi đã thấy mất vía, tóc mai dựng ngược, toàn thân nổi da gà…

ĐI TÌM BẠN

Gặp nhau trong ngày họp lớp, không có thời gian chuyện trò nhiều, chỉ biết lờ mờ nhà bạn ấy chỉ cách nhà tôi hơn 10 cây số, một vùng quê thuần nông thanh bình yên ả, là nơi tôi thường qua lại công tác thế mà gần 30 năm nay từ ngày tới sống ở vùng đất Hàm Thuận Nam này tôi không hề hay biết mình có một người bạn đã từng chung lớp, chung trường và cùng chung bãi biển Thương Chánh mà gia đình tôi đã từng sống nơi ấy gần 10 năm.
            Nhân có buổi làm việc với địa phương, tôi hỏi ông trưởng thôn: Ở đây có ai tên Nguyễn Minh Thành, trạc tuổi như tôi, trước đây sống ở Phan Thiết, đến đây sống đã nhiều năm. Không cần suy nghĩ, ông đáp ngay: - Có, còn gọi là Hậu, dáng người cao cao, nước da ngăm ngăm, nhậu với tôi hoài. Tôi nhờ ông chọn cho tôi một quán cà phê đẹp và thơ mộng nhất vùng này để tôi tiếp bạn. Oke, ông trưởng thôn nhanh nhẩu trả lời. Nói cho oai vậy thôi chứ vùng quê quanh năm suốt tháng tần tảo ruộng vườn nương rẫy, được mấy người có thời gian rảnh tới quán uống cà phê đâu nên quán xá ít ỏi, chỉ đếm trên đầu ngón tay, bàn ghế cũ kỹ, trang trí vài ba chậu kiểng cho có vẻ là quán. Để chắc ăn hơn, tôi gọi cho bạn Xuân Bắc (Mương Mán) xin số điện thoại và alô cho bạn ấy, 3 phút sau bạn ấy có mặt.
           Không cần phải nhận ra nhau vì đã gặp hôm 30/4 nhưng bạn ấy hơi bất ngờ vì tôi đi tìm bạn ấy. Được mời về nhà, bên tách trà nghi ngút khói do cô con gái vừa mới pha cho cha tiếp bạn, chúng tôi có dịp nhắc lại nhiều kỷ niệm xa xưa, không những chúng tôi cùng trường, cùng lớp, cùng ở Thương Chánh mà suốt hai, ba năm, thời còn học tiểu học đã cùng ở chung một phòng giúp lễ cho Linh mục nhà thờ Vinh Phú. Không hiểu sao tôi lại quên giờ nhắc lại mới nhớ, hay là trí nhớ đã bị “thoái hóa” do thời gian năm tháng, hay là do đầu óc bây giờ “lộn xộn” rồi, bởi có những điều đáng quên thì lại nhớ, còn những điều đáng nhớ thì lại quên.
            Bạn ấy bây giờ làm nông, cũng trồng thanh long, thời gian rãnh rỗi nhất là vào ban đêm, bạn ấy viết văn, làm thơ và chắc chắn tôi sẽ được thưởng thức những tác phẩm của bạn ấy những sáng tác của bạn ấy. Cụ thể là bài thơ dưới đây.

TÌNH YÊU “NÀNG THANH LONG”
Tên em tên thật là Long
Nôm na thường gọi con rồng lá xanh
Bởi em mang họ nhà Thanh
Họ, tên ghép lại là thành Thanh Long
Dáng em thon thả cong cong
Thân em mang nặng gai chông đầy mình
Mới về kẻ trọng, người khinh
Có anh Hiệp Nghĩa (*) tỏ tình thương em
Thẹn thùng thả dáng làm duyên
Má em ửng đỏ anh liền vội yêu
Yêu em, trao gởi thật nhiều
Dầu thơm, mỹ phẩm đủ liều cho em
Đông về giá lạnh thâu đêm
Anh lo đốt lửa cho em ấm lòng
Đáp tình em tặng anh bông
Bông em hé nở, hoàng hôn lại về
Bình minh ló dạng sơn khê
Bông em khép lại để che mưa rào
Một sương hai nắng bệnh đau
Anh lo chăm sóc, xoa dầu vuốt tai
Tình ta rộng mở tương lai
Cho em du lịch nước ngoài nhé anh
Mỉm cười anh tiễn họ Thanh
Em đi nhớ ghé vòng quanh địa cầu
Ngày về tình nghĩa nặng sâu
Em về em hứa làm dâu cả làng
Nhà cao phố xá thênh thang
Em đây xứng đáng là nàng Thanh Long.
(*)Hiệp Nghĩa: tên của thôn
PhamDinhNhan

ĐỢI CHỜ

Cái tin “động trời” vợ anh T bỏ nhà theo trai làm xôn xao, náo động cả xóm vốn êm đềm, hiền hòa, quanh năm suốt tháng chỉ biết vui vầy với ruộng đồng cây trái. Mấy hôm rày, suốt ngày trời mưa tầm tả, công việc nhàn rỗi, cũng là dịp cho mấy chị phụ nữ tụm lại bàn tán, mỗi người thêm một chút làm câu chuyện ngày càng dài ra, ly kỳ, hấp dẫn…
           Sinh ra và lớn lên ở một làng chài vừa làm biển vừa làm rẫy; cũng như bao chị em bình thường khác, chị lập gia đình. Trong một lần ra khơi gặp bão tố, chồng chị vĩnh viễn không bao giờ còn trở về. Một mình tần tảo nuôi 3 con nhỏ. Khi thì người ta gặp mẹ con chị hàng tuần lễ ở trên nương rẫy chặt củi, đốt than. Khi thì người ta gặp chị ngày ngày kĩu kịt gánh đậu hủ nặng trĩu trên vai đi khắp làng trên xóm dưới và dọc theo các quán ăn ven biển. Tuy đầu tắt mặt tối nhưng cũng chỉ bữa đói bữa no. Những đứa trẻ gầy gò, ốm yếu, đen thui vì nắng gió và vì thiếu ăn, còn chị ngày một xanh xao, vàng vọt, bơ phờ…
           Người họ hàng xa giới thiệu chị cho anh T, một người đàn ông hơn chị trên 10 tuổi, chưa vợ con, sống một mình. Thương cho cuộc sống mẹ con chị và đồng cảm trong cảnh nghèo như nhau, anh T đồng ý. Họ đến với nhau chẳng tiệc tùng ầm ỷ chỉ bằng vài mâm cơm cúng ông bà và mời mấy nhà hàng xóm lân cận đến chứng kiến chung vui. Ngày thành hôn, anh lúng túng trong bộ quần áo mới, đi đứng mất tự nhiên, ai bảo sao làm vậy bởi quanh năm chỉ quen với bộ đồ lao động cuốc xới vườn tược và đi làm mướn. Sau khi khách khứa ra về, người ta thấy anh cởi phăng chiếc áo, mặc quần đùi ngồi chồm hổm sau cửa bếp với tô bún trên tay cho thoải mái, khỏi nực nội, bực bội vì cả buổi đi tới đi lui lo cho khách chưa kịp ăn…
Từ ngày mẹ con chị đùm túm xa rời vùng biển lên vùng quê, căn nhà tôn vách đất của anh bấy lâu nay im lìm buồn tẻ sôi động hẳn lên, tiếng trẻ thơ nô đùa, tiếng i a học bài làm anh thấy vui; nhà có người phụ nữ coi ngó, dọn dẹp, bếp núc hàng ngày, anh cảm thấy an tâm và ấm cúng. Năm sau, chị sanh cho anh một cháu gái xinh đẹp, dễ thương, có người còn bảo “giống cha như đúc”…
             Những đứa trẻ bắt đầu lớn, nhu cầu chi tiêu cho ăn uống sinh hoạt trong gia đình ngày càng nhiều, hai vợ chồng từ mờ sáng đã cùng nhau trên chiếc xe đạp đi làm mướn dài hạn cho một chủ vườn trồng thanh long cách nhà gần một cây số, sau giờ làm anh còn tranh thủ chăm sóc vườn tược mới đủ tiền trang trải cho cuộc sống.
             Mấy ngày nay trời trở gió, nóng bức, báo hiệu mùa mưa gần kề; ngôi nhà tôn vách đất cũ kỹ, ọp ẹp, xiêu vẹo, dột nát của anh không biết có chống chỏi nỗi với mùa mưa bão năm nay không; anh nghĩ mà thương cho mấy đứa nhỏ, lấy gì mà che nắng mưa cho chúng nó. Biết chuyện, người chủ vườn cho vợ chồng anh mượn tiền cất nhà, tuy không được rộng rãi lắm nhưng cũng được xây bằng gạch, lợp tôn, nền lót gạch men, tạm đủ cho 6 người trong gia đình trú nắng che mưa. Hai vợ chồng cần mẫn, chăm chỉ đi làm mướn quanh năm suốt tháng nhưng cũng không thể nào dư tiền trả cho chủ. Anh quyết định bán bớt mấy sào đất vườn do cha mẹ để lại để trả cho chủ, còn dư chút ít đầu tư trồng thanh long trên khoảnh đất còn lại.
             Kể từ hôm ấy, anh chuyển sang làm mướn cho một vườn thanh long khác sát nhà, ngoài giờ làm anh tranh thủ không kể sớm khuya mưa nắng chăm sóc vườn thanh long nhà mình, còn chị đi làm công cho một công ty chuyên mua và xuất khẩu thanh long có tiếng trong vùng. Thời gian thắm thoát qua đi, những đứa con riêng của chị cũng đã lớn, đứa nhỏ nhất cũng đã mười lăm mười sáu tuổi, chúng ra đi mỗi đứa một nơi tự làm ăn nuôi sống bản thân. Lâu thật lâu, có khi hàng mấy tháng trời mới thấy chúng về, nhưng cũng chỉ một lát rồi đi liền, cũng có khi kéo cả đám bạn bè về bắt gà vịt làm thịt nhậu nhẹt, say sưa; có đứa trở về quê nội rồi ở hẳn ngoài đó. Nhà chỉ còn 2 vợ chồng và đứa con gái chung của anh chị, nay cũng đã tám, chín tuổi. Ngày ngày chị vẫn đi làm ở công ty, anh vẫn đi làm mướn và chăm sóc vườn nhà.
             Những lứa thanh long đầu tiên cho thu hoạch, nhà bắt đầu có dư chút ít, chị thì ngày một trắng trẻo, hồng hào, đầy đặn. Ra đường cũng son phấn, quần này áo kia theo thời trang; còn anh thì cũng chỉ bộ đồ lao động, gầy gò, đen nhẹm vì nắng mưa vườn tược. Tuy vậy nhưng rất mực thương vợ thương con, chỉ biết làm mà không hề nghĩ đến thứ gì riêng cho mình.
             Thời gian gần đây, chị thường đi làm sớm, về trễ và quan hệ hơn mức bình thường với một người đàn ông đã có vợ con cùng làm chung nhỏ tuổi hơn chị; người ta thường thấy hai người chở nhau đi, tiếng xì xầm bàn tán râm ran trong công ty; nghi ngờ chị ngoại tình, mấy chị em hàng xóm gần nhà anh cùng làm chung công ty quyết bắt quả tang cho được để chị không còn chối cải, bỏ cái thói lẳng lơ, ong bướm, trăng hoa kia đi.
             Tối nay mấy chị em ra khỏi công ty sớm hơn bình thường, núp sau những lùm cây ven đường để rình, họ bắt quả tang chị ngồi sau xe Honda anh đó chở đi mãi tới khuya mới về, còn đi đâu làm gì thì chẳng ai biết. Ở vùng nông thôn, chỉ cần có thế là đủ chứng minh chị không trong sáng, không chung thủy rồi. Đến tai anh, vốn tính tình thật thà, hiền lành anh không tin, cứ nghĩ họ ghét bỏ vợ anh nên đặt điều nói bậy, mãi tới mấy hôm sau, đi làm về, nghe đứa con gái nói mẹ xếp quần áo và nói là đi Sài Gòn lúc đó anh mới chưng hửng. Tiền bạc trong nhà cũng lấy đi sạch, người hàng xóm phải cho cha con mượn mấy ký gạo ăn đỡ chờ bán lứa thanh long sắp chín.
              Biết chuyện, những người hàng xóm tốt bụng chỉ biết thương cho anh, lắc đầu, thở dài; còn những người nóng tính hơn thì bảo loại người vô ơn, bội bạc đó thì bỏ quách đi cho rồi, thương tiếc làm gì…Gần như cả cuộc đời anh không hề nghĩ đến bản thân mình, chỉ biết làm để cưu mang, bao bọc, chở che cho mẹ con chị. Khi đủ lông đủ cánh chúng biền biệt không hề nhớ đến anh, còn lại chị, cũng bỏ anh mà đi mất, càng nghĩ anh càng thấy tủi thân rươm rướm nước mắt và thương cho đứa con nhỏ không có mẹ…
Đã hơn một tháng rồi, chiều chiều bên mâm cơm trước hiên nhà, anh thẩn thờ đăm chiêu nhìn xa xăm mãi tận cuối con đường như chờ đợi hình bóng chị trở về, bên cạnh đứa con gái bé bỏng chờ cha ăn xong để bới chén cơm khác.
              Đoạn kết:
            Bẳng đi một thời gia khá lâu, có đến sáu, bảy tháng tôi gặp lại anh, vẫn với dáng vóc khẳng khiu buồn khổ thẩn thờ, đôi mắt vô hồn mơ màng đợi chờ một điều gì đó như đợi chờ một phép mầu. Có lần anh hỏi con gái: Con có nhớ mẹ không? -Mẹ bỏ cha con mình, nhớ làm gì cho mệt hả Ba. -Còn Ba thì thấy nhớ nhớ. Anh vẫn đợi chờ, đợi chờ một lúc nào đó chị nghĩ lại và trở về, anh hình dung ngôi nhà tẻ lạnh mấy tháng nay sẽ ấm lên như những ngày đầu mẹ con chị đến với anh vì nghe nói chị chẳng phải ở đâu Sài Gòn xa xôi mà ở một thôn khác trong xã. Có lần anh nhờ người hàng xóm viết dùm một lá thư kêu chị về nhưng thư đi rồi mà đợi mãi bóng người chẳng thấy. Và phép mầu thực sự đã không đến với anh như lâu nay mong đợi, anh đau nhói tim khi nghe người hàng xóm đã gặp chị chung sống với người khác. Thế là hết, có lẽ chị chẳng bao giờ còn trở về, những năm tháng sống với nhau anh chưa một lần to tiếng với chị. Sao mà đành đoạn đến thế?...Có lẽ niềm hạnh phúc mỏng manh còn lại của anh là đứa con gái, ít ra vẫn còn một cái gì đó để anh sống nốt những ngày còn lại dù chưa biết ra sao ngày sau.
            Thương cho hoàn cảnh một con người./.

PhamDinhNhan

NGỚ NGẨN

Buổi sáng có công việc gấp, dắt chiếc xe đạp ra khỏi nhà, bánh xe xẹp lép. Lạ nhỉ, mới đi về hồi hôm vẫn bình thường mà. Lục lọi một hồi mới tìm ra cái bơm bỏ trong góc nhà từ lâu, bụi và màng nhện bám đầy. Bắt đầu bơm, cái bơm để quá lâu không sử dụng hư hồi nào chẳng hay. Lại tìm cái kềm hì hục sửa cái bơm, van da khô cứng, vênh qua một bên. Nghĩ mãi mới nhớ chiếc dép da đứt quai quăng bên hồi nhà, lấy cái kéo rỉ sét vất trong đống sắt vụn, “cò cưa” một hồi cũng cắt được một miếng làm cái van da, cuối cùng mọi chuyện đều ổn, cái bơm hơi hám đầy đủ.
         Gắn vòi vào bánh xe, bắt đầu bơm, hơi vào tới đâu xì ra tới đó, ruột xe bị lủng cái lổ quá to. Bó tay. Dắt ra tiệm sửa xe thì vừa mệt vừa lâu mà lại có công việc cần đi gấp. À! Có cách rồi. Qua nhà hàng xóm, mượn chiếc xe đạp khác, chở chiếc xe đạp xẹp lốp ra tiệm vá ruột, khỏi phải dắt bộ, vừa khỏe vừa nhanh. Nghĩ thấy mình cũng thông minh đấy chứ! Gật gật cái đầu, mĩm cười một mình…
          Vào hóc bếp, tìm được sợi dây “ba ga” tương đối tốt, chỉ nối một vài đoạn, hì hục ràng thật chặt chiếc xe đạp xẹp lốp theo chiều dọc chiếc xe đạp mượn người hàng xóm, lắc qua lắc lại, đẩy tới đẩy lui, thế là quá chắc chắn, ra sau rửa tay sạch sẽ. Ôi! Ràng kiểu này thì ngồi chỗ nào mà đạp vì cái yên bị chiếc xe đạp xẹp lốp đè lên rồi. Lại tháo ra ràng theo chiều ngang ở ba ga sau, kiểu này là quá bảo đảm. Ngồi lên đạp, xe chòng chành, lúc thì ngã bên này, lúc thì ngã bên kia; Đạp được vài ba mét rồi thì không tài nào đi được nữa. Thôi thì dắt bộ ra tiệm sửa xe cho chắc ăn. Vừa dắt vừa đỡ chiếc xe đạp xẹp lốp nằm trên ba ga lại vừa chồm tới đè cái ghi đông thật mạnh nếu không xe hổng bánh trước…

          Đến nơi, người đầm đìa mồ hôi. Cậu sửa xe đạp chạy ra. Xe bị hư gì hả chú. Cậu vá dùm tôi cái bánh xe. Xe nào hả chú. Thì chiếc xe đạp xẹp lốp ràng trên chiếc xe này này. Sao chú không dắt chiếc xe xẹp lốp thôi vừa nhẹ nhàng vừa đỡ vất vả mà phải dắt chiếc xe này chở chiếc xe kia cho nó mệt.
          À!...Sao tôi lại không nghĩ ra nhỉ? Ngớ ngẩn thật./.
PhamDinhNhan

HOA NỞ VỀ ĐÊM

Một người tìm vui mãi tận trời nào giá lạnh hồn đông - Một người chợt nghe gió giữa mênh mông rót vào trong lòng - Và một mình tôi chép dòng tâm tình tặng người chưa biết một lần - Vì trong phút ấy tôi tìm mình thì thầm giờ đã gặp được một nụ hoa nở về đêm. Đó là lời của bài hát “Hoa nở về đêm”, tác giả đã diễn tả tâm trạng của chính mình ví người con gái như một nụ hoa nở về đêm.
          Cũng có một loài hoa khác thầm lặng nở về đêm, loài hoa rất thật, không ví von bóng gió đa tình như cảm nhận của văn sĩ nhạc sĩ thi sĩ về người con gái; loài hoa cứ chờ cho muôn loài chìm dần vào giấc ngủ mới cựa mình hé nở một cách bí ẩn, tỏa hương thơm ngát, khoe vẻ đẹp lung linh, kiêu sa trắng toát nỗi bật giữa trời đêm. Đó là hoa thanh long.
          Những người gốc rạ như tôi, tức là những người mang bản chất nông dân thực thụ, mỗi lần thấy hoa thanh long nở là mỗi lần niềm vui trong lòng dâng lên vì không những được ngắm nhìn vẻ đẹp quý phái của hoa, được chiêm ngưỡng trong đêm cả khu vườn rực trắng vì hoa nở mà mỗi nụ hoa còn dự báo về sự trĩu quả cho một mùa bội thu của gia đình.
           Mời các bạn thưởng thức vẻ đẹp của hoa Thanh Long trong vườn nhà đêm 22/11/2012
PhamDinhNhan


BỨC THƯ TÌNH

Sáng tinh mơ, vừa mới mở cửa đã thấy chị hàng xóm thất tha thất thểu, khuôn mặt buồn xo bơ phờ qua nhà tôi rồi. Nhìn vóc dáng của chị biết là có chuyện chẳng lành… Từ ngày gia đình tôi đến sống ở cái làng này, chị là người hàng xóm thường hay lui tới nhà tôi nhiều nhất, gia đình có chuyện vui, buồn đều sang kể như để chia sẻ, chung vui. Vợ chồng đi du lịch, đám cưới, đám ma… về đến nhà việc đầu tiên là qua nhà tôi kể rành rọt ngọn ngành, nhưng mọi lần hớn hở bao nhiêu thì hôm nay âu sầu bấy nhiêu.
          Số là chiều hôm qua, sau khi dạo một vòng mấy nhà lân cận trở về (thường thì vào giờ này chị đang tán dóc với mấy bà hàng xóm, gần tới giờ nấu cơm chiều mới về), bước vào cửa phát hiện chồng chị ngồi hí hoáy viết gì đó vào một tờ giấy, karaoke thì mở mà có hát đâu, thấy chị anh hơi giật mình vo vội tờ giấy chờ chị đi ra sau nhè nhẹ quăng xuống gầm bàn. Từ hồi nảo hồi nào đến giờ chỉ thấy ổng ghi số ký (KW) điện vào một cuốn sổ để theo dõi chong đèn thanh long chứ có bao giờ viết vào tờ giấy đâu, lại thậm thà thậm thụt nữa chớ. Linh tính của người phụ nữ cho biết là có chuyện không bình thường rồi. Chị nhanh trí lấy cái chổi giả bộ quét nhà, anh vừa ra khỏi cửa là chị khều ngay tờ giấy vo tròn cho vào túi ngay. Hồi nhỏ, gia đình chị nghèo khổ, ở vùng sâu vùng xa, lo phụ giúp cha mẹ việc đồng áng ruộng vườn nương rẫy có được đi học đâu, bây giờ một chữ bẻ làm đôi cũng không biết thì làm sao biết được ổng viết gì trong đó, mà nhờ mấy đứa con lỡ chúng biết chuyện cha chúng nó có ý này ý nọ thì chẳng hay ho gì.
          Đích thực là ổng viết thư tình rồi, nghĩ thế mà cả đêm trằn trọc không ngủ được, chị đâu có xa lạ gì cái tính trăng hoa của ổng từ thời trai trẻ, quen với chị rồi mà còn “bắt cá hai ba tay”, thậm chí về sống với nhau rồi chị còn nghe nói anh đèo bồng với người khác nữa, cũng chỉ nghe nói thôi chứ không đủ chứng cớ nên chị không làm gì được, mà không có lửa làm sao có khói. Chị nhớ lại mới tháng trước thôi, hai vợ chồng về quê đám giổ, anh bỏ chị một mình đi đâu cả buổi, hỏi đến anh nói lâu ngày gặp bạn bè đi nhậu. Có lần người ta còn bắt gặp ổng tán tỉnh bà đầu xóm chết chồng nữa chớ. Mấy năm còn nghèo khổ, vợ chồng lúc nào cũng bên nhau quanh năm suốt tháng vất vả cày cuốc ruộng vườn lo miếng cơm manh áo cho cả đàn con mười đứa đâu còn thì giờ nghĩ tới chuyện ong bướm. Bây giờ con cái đã lớn, có cháu nội cháu ngoại đầy đàn, kinh tế ổn định có đồng ra đồng vào bắt đầu sinh tật.
          Tôi giở tờ giấy ra xem, đúng là những lời lẽ yêu thương trai gái, chỉ có những đôi tình nhân yêu nhau thắm thiết mới bày tỏ nỗi lòng bằng những vần điệu da diết như thế. Mà sao tôi thấy quen quen, rất quen như mình đã đọc ở đâu rồi thì phải, nghĩ mãi không ra. Sực nhớ cư dân trên mạng có câu: Dân ta phải biết sử ta/ Nếu mà không biết thì tra Gu Gồ (google). Mặc dầu không phải là sử sách nhưng thử xem. Tôi gõ một hàng của “bức thư tình” liền hiện ra lu bù kết quả. Trong đó có nội dung của một bài hát ở thập niên sáu mươi, nói về tình yêu đôi lứa mà thời bấy giờ nhiều người rất thích…
          Thì ra, chồng của chị là người rất yêu văn nghệ, đám cưới đám tiệc mà anh không được hát là về ấm ức mấy ngày mới nguôi, đặc biệt sau khi có thêm rượu bia kích thích không những hát mà còn nhảy nữa, nhưng nhạc hồi xưa lâu ngày quên cũng nhiều, chẳng còn bài nào thuộc trọn vẹn cả. Mấy hôm trước nhận được thiệp mời của một người bạn tổ chức đám cưới cho con, nghe nói có bố trí sân khấu, quay phim, chụp ảnh hẳn hoi, thuê dàn nhạc nổi tiếng trong vùng, thậm chí được chiếu trực tiếp chương trình ca hát lên màn ảnh lớn. Anh thích bài hát này, quyết tâm học thiệt thuộc để biểu diễn, tranh thủ vợ đi qua nhà hàng xóm anh mở karaoke chép lời để học, viết chưa được nửa bài đâu ngờ bà vợ lại về bất thường làm anh cụt hứng; với lại bây giờ có bà ấy về coi nhà rồi tranh thủ vào rẫy tưới thanh long, để hôm nào viết lại. Anh cũng không hề biết “linh tính” của người phụ nữ nhạy cảm đến vậy.
          Nghe tôi giải thích, chị thở phào nhẹ nhỏm như trút được gánh nặng ngàn cân đè nặng chị từ chiều hôm qua đến giờ, chị tươi tỉnh hẳn lên vừa mừng vừa lo, mừng vì đó không phải là “bức thư tình” như linh tính mách bảo, lo là nếu anh biết được chuyện này, khi có rượu vào chị đừng hòng yên thân. Gì thì gì miễn đó không phải thư tình là được. Chị cười toe toét./.
PhamDinhNhan

ÔNG TƯ

Cả làng ít ai biết tên trong giấy tờ của “ông Tư mù” là gì, người lớn gọi là anh Tư, trung niên gọi là chú Tư, còn trẻ nhỏ gọi là ông Tư; nhưng đó là trước mặt thôi chứ sau lưng thì thêm tiếng “mù” vì ông Tư bị mù, mà cũng chẳng ai biết vì sao ông bị mù và mù từ lúc nào.
          Từ khi cái làng nhỏ ven tỉnh lộ này được hình thành đến nay người ta đã thấy “ông Tư mù” với vật “bất ly thân” là cái gậy tre, khuơ qua khuơ lại lọc cọc trên đường khi có việc phải ra khỏi nhà… Cũng có vợ con hẳn hoi, vì mù không làm nương rẫy đồng áng được nên ở nhà làm nghề đan lát, trời phú cho đôi bàn tay khéo léo, vót từng cái nan tre, chẻ từng sợi “lạt” buộc li ti mà con dao chưa hề phạm vào tay chảy máu, cả cái làng này thúng, mủng, rổ, rá, nia, dần, sàng, giỏ… đều mua của ông Tư mù, sản phẩm ông làm ra rất đẹp và sắc sảo ai ai cũng hài lòng. Ông còn có biệt tài là chỉ cần rờ tờ giấy bạc là biết mệnh giá bao nhiêu ngàn liền; muốn tới nhà ai trong xóm, chỉ cần dẫn đi lần đầu, những lần sau ông tự đi mà chưa hề sai nhà, lạc đường… Cả ngày ông làm bạn với cái Radô (Radio) nên tin tức, thời sự trong Nam ngoài Bắc; bên Tây bên Tàu ông đều thuộc làu làu. Cứ mươi bữa nửa tháng lại qua nhà tôi chơi, vừa uống tách trà nóng vừa kể vanh vách đủ thứ chuyện trên trời dưới đất mà ông nghe được từ cái Radô…
         Trời chiều lắm rồi, tôi đi làm đồng về đã nghe thấy giọng bi bô của ông trước ngỏ. Lạ vậy cà, mới sáng sớm nay ông đã cùng tôi uống trà kể tôi nghe đủ thứ chuyện trong cái Radô mà, nào là chuyện biển đông; chuyện quan chức, đại gia nhậu nhẹt bê tha trên du thuyền, tắm kiểu mới có một cô bị rớt xuống sông chết đuối; chuyện Thứ trưởng khai gian học vị Tiến sĩ; chuyện trộm Kho bạc; chuyện giết người cướp tiệm vàng… kể cả chuyện ca sĩ lên sân khấu mặc quần bằng lưới gây xôn xao. Giờ cái “dzụ” gì nữa đây ta.
          - Tui qua báo cho chú Hai nó biết cái tin vừa mừng vừa lo, mừng là chiều nay con gái út nhà tôi nhận được giấy báo thi đậu Đại học, lo là không biết lấy tiền đâu cho nó ăn học đây.
          Tôi không biết trả lời sao đành nói dăm câu động viên.
          - Hơi đâu anh Tư lo cho nó mệt, cháu nó thi đậu Đại học là nhà có phúc rồi, cái làng này thiếu gì nhà giàu nứt khố có con thi năm lần bảy lượt mà vẫn trượt là trượt, cái thằng Tám xóm trên năm ngoái con nó thi rớt, chê thầy ở cái Tỉnh lẻ này dạy dỡ, vào tận Thành phố ôn thi cả năm vậy mà vẫn rớt; còn cái thằng Ba xóm dưới, nghe nói làm tới cái chức gì to lắm, con nó vào Sài Gòn học bốn năm năm nay, cùng một lứa ra trường đứa nào cũng có bằng, nó thì không, té ra mấy năm nay bao nhiêu tiền gởi vào nó ăn chơi xả láng, đến trường được mấy buổi đâu mà bằng với cấp. Con anh Tư được như thế là vinh hạnh cho cái làng này lắm rồi. Thôi thì anh chị rán làm thêm, trời thương tình cho trúng mùa rồi mọi chuyện cũng sẽ đâu vào đó… Sẵn dịp tui mới câu được mấy con ếch, mình rai rai vài ly gọi là mừng cho cháu mà cũng mừng cho anh chị luôn.
          Thế là nâng ly, xuống ly, cà kê dê ngỗng đủ thứ chuyện trên đời, trời tối lúc nào không hay, anh Tư mù cáo từ lọc cọc ra về, mới đến đầu ngỏ, tôi sực nhớ gọi với theo.
          - Anh Tư, trời tối rồi, anh cầm cái đèn pin này mà về...
          -Trời! Chú Hai mày uống có mấy ly mà say rồi sao? Hay là chú mày bôi bác tui. Mù lòa thế này thì trời sáng có khác gì trời tối, có đèn pin hay không có đèn pin có khác gì nhau đâu…
         - Ấy! Ấy. Anh Tư hiểu sai ý tui rồi. Tui đưa đèn pin cho anh Tư không phải để anh thấy đường đi về mà để người ta thấy anh người ta tránh.
         Cũng có lý !!!
PhamDinhNhan

RẠNG 17.4.2015

ĐI CHÙA HANG - Phần 6 (hết)

Buổi chiều ở làng chài La Gàn thật yên tĩnh, nghe được cả tiếng gió xào xạc trên những ngọn dừa, nghe được cả tiếng của những đợt sóng nối nhau vỗ vào bờ; trước căn nhà lá trong vườn cây, chú bé khoảng 5-7 tuổi, mình trần, da thịt chắc nịch, đen bóng vì nắng gió đang ngồi nhìn cha vá lưới, chăm chú quan sát từng nút thắt khéo léo để rồi một ngày nào đó, cái nghề “đi biển” kia lại được truyền cho con cháu như bao đời nay cha ông đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Sau nhà, khói lam chiều chuẩn bị cho bữa ăn của người mẹ bốc lên cao rồi tụ lại dưới những tàn cây. Mâm cơm duy nhất chỉ tô canh nấu bằng lá me với mẽ cá tươi mới đánh bắt trong ngày và một dĩa cá kho; vợ chồng con cái quây quần vừa ăn vừa vui vẻ thì thầm trò chuyện như sợ khuấy động cái không gian yên tĩnh của một vùng quê hiền hòa. Ngoài kia, những tia nắng cuối cùng trong ngày tắt dần, làng chài chìm dần vào bóng đêm. Mái ấm hạnh phúc của một gia đình lồng trong khung cảnh một làng quê thanh bình đẹp như một bức tranh làm tôi nhớ mãi cho đến bây giờ, đặc biệt là mỗi khi có dịp đi qua những vùng quê ven biển.
          Rồi đây, hòa nhịp với đà phát triển của xã hội; rồi thì cái làng chài yên bình kia có còn giữ được vẻ nên thơ nữa không hay sẽ trở nên xáo trộn; rồi thì những khối bê tông trình trịch của những ngôi nhà mới xây sẽ thay cho những căn nhà cổ xưa; rồi thì xe cộ tấp nập bát nháo tung đầy bụi khói; rồi thì hàng quán sẽ mọc lên như nấm; rồi thì cuộc sống sẽ trở nên vội vã, ồn ào, náo nhiệt; rồi thì cái làng chài được mệnh danh là cổ nhất, xưa nhất kia sẽ rối tung lên; rồi thì, rồi thì còn nhiều thứ sẽ rồi thì nữa… Thế là hình ảnh yên ả thanh bình của cái làng chài may ra chỉ còn trong trí nhớ của những người lớn tuổi đã sinh ra và lớn lên ở vùng này hoặc những du khách đã có dịp dừng bước nơi đây. Biết làm sao được. Người dân La Gàn muốn thế, họ muốn đổi thay, họ muốn có cuộc sống với những tiện nghi hiện đại, họ muốn trở mình vươn dậy theo từng bước phát triển của xã hội….
Cũng không thể biết được tương lai sẽ ra sao, thôi thì một đêm nào đó, đung đưa theo nhịp võng trước hiên căn nhà lá của làng chài êm đềm kia; trong cái nửa tỉnh nửa mê của men rượu “ngâm đủ thứ”, của ớt “cổ thụ”, mắt lim dim ngắm nhìn hàng hà sa số những ánh đèn câu mực phát ra từ khơi xa như ngày hội hoa đăng; văng vẳng đâu đây tiếng chuông chùa vọng lại hòa lẫn tiếng sóng vỗ rì rào; mơ màng theo hai chàng Lưu Nguyễn lạc vào chốn bồng lai; khi về lại trần thế, nhớ xin mấy viên sỏi đủ thứ màu, mua mấy món quà ở gian hàng lưu niệm để khoe với bạn bè, người thân là ta cũng đã đi đến vùng đất Tuy Phong; chiêm bái Chùa Hang Cổ Thạch, tắm biển Cà Dược, bước trên bãi sỏi lung linh màu, ngắm nhìn vịnh Hải Âu, thưởng thức rượu “ngâm đủ thứ” với ớt “cổ thụ”. Đây cũng là quê hương của Thầy, nơi ở của bạn bè đã từng chung đèn sách dưới mái trường thân thương xa xưa…
         Tôi viết về Chùa Hang tương đối chi tiết để các bạn cứ tha hồ hình dung, tha hồ tưởng tượng, tha hồ mơ mộng, mà nếu thấy chưa thỏa mãn thì về Phan Thiết gặp nhau rồi ta lại đi Chùa Hang Cổ Thạch, nhân tiện ghé thăm Thầy và bạn bè một thể./.
(Hết)
PhamDinhNhan

ĐI CHÙA HANG - Phần 5

Từ bãi tắm của các nàng tiên nhìn chếch về hướng Tây, dưới những rặng dừa xanh rì, những hàng phi lao cao vút là làng chài La Gàn (tôi tạm gọi thế vì không biết tên), trong đấy có Lăng Ông, là nơi thờ những Bộ xương cá Voi vốn được Vua Gia Long sắc phong là Thần Nam Hải, ngư dân kính trọng gọi tắt là “Ông”. Cũng giống như các làng chài ven biển từ Đèo Ngang vào tới Mũi Cà Mau, cá Voi gắn liền với cuộc sống của người dân, cùng dựa vào nhau vượt qua những cơn phong ba bão táp ngoài biển khơi. Tương truyền, cách đây trên 100 năm, ngư dân La Gàn phát hiện xác cá Voi chết (còn gọi là “lụy”) lập lờ trôi vào bờ, thanh niên trai tráng đưa “Ông” về làng, nhưng Ông to và nặng như… “Con Voi” nên phải mai táng tại bờ biển, 3 năm sau (mãn tang) mới cải táng, đưa cốt Ông về thờ. Lăng Ông được hình thành từ đó (Lăng ở La Gàn còn có tên khác là “Phủ Ngọc Cốt”). Mỗi lần phát hiện có cá Voi chết, ngư dân tổ chức các nghi thức tẩm liệm, cung nghinh về Lăng mai táng một cách rất long trọng, tôn nghiêm và xem việc thờ cúng cá Voi là một tập tục rất cần thiết trong đời sống tâm linh. Đến nay đã có trên 100 bộ cốt Ông được thờ tại Lăng này.
Theo một ngư dân lớn tuổi trong làng (đã 4 lần phát hiện cá Ông lụy) kể lại: vào một buổi sáng tháng 8 ÂL năm 1982, một đàn cá Voi ước chừng trên 20 con dìu một “Ông” lụy từ biển khơi tiến vào bờ, chờ cho đến khi dân làng nổi kèn trống nghinh Ông về Lăng, đàn cá kia mới quay đầu trở về biển khơi. Thế mới biết, loài cá này cũng sống thành cộng đồng, có tổ chức và quan tâm tới đồng loại. Cá Voi chết trôi vào bờ gần đây nhất là vào tháng 7 ÂL năm 2009, do một du khách từ xa đến tắm biển phát hiện.
          Tôi nghe nói, trước khi tổ chức công nhận kỷ lục bộ xương cá Voi lớn nhất vùng Đông Nam Á tại Vạn Thủy Tú (Phan Thiết), các chuyên gia rất bất ngờ thấy bộ xương cá Voi ở Phủ Ngọc Cốt (La Gàn) còn lớn và ước tính còn nặng hơn ở Vạn Thủy Tú. Do đó, kỷ lục về bộ cốt Ông Nam Hải ở La Gàn là điều cần được xác minh công nhận.
Cũng trong làng chài La Gàn kia, một người quen có lần mời tôi và mấy người bạn về nhà chơi, chiêu đãi món cá Lồi xối mỡ, món này nhiều bạn cũng đã biết rồi, nhưng điều đáng nói là phải ăn với một loại ớt, vì chưa có “thương hiệu” nên gọi là ớt “hiểm”, chỉ bé tí, lớn hơn cái ruột bút bi một chút, dài khoảng trên dưới một phân. Cũng cuốn cá, rau sống bằng bánh tráng mỏng cho vào miệng, cắn ngay một trái ớt, vị cay cấp thời như lửa đốt nhưng không gắt hòa lẫn với cá cứ thế từ từ rồi thấm dần, thấm dần rồi trôi tuột, trôi tuột… cho đến khi không còn chỗ trôi tuột nữa mới thôi. Sau đó nhấp một ngụm rượu “ngâm đủ thứ” mà bạn tôi nói vui là uống vào không bổ dọc cũng bổ ngang, không bổ xuôi cũng bổ ngược. Hơi ấm cứ thế rân rân chạy từ trên xuống dưới, rồi từ dưới dội ngược lên trên… khà một cái, đã hết chỗ chê. Chủ nhà khoái lắm, thấy khách liên tục nâng ly. Hình như “độc trị độc”, vị cay của ớt làm giảm bớt đi nồng độ của rượu nên uống mãi không thấy say. Tôi tửu lượng kém, ly rượu giống như ly của Thạch Sanh, nâng hoài mà không hề cạn đáy. Tôi hỏi:
          -  Đây là loại ớt gì mà thơm, ngon thế?
          - Đây là giống ớt đặc biệt, chỉ có ở La Gàn, muốn ăn phải trèo lên cây mới hái được.
          - Trời đất, loại ớt này thuộc “bộ giống cổ thụ” chắc?
         - Không tin hả? Mời tham quan.
        Cả bọn kéo nhau ra sau vườn, đúng thật, anh ấy leo lên một cây (giống như cây Đa) to tướng, hái nguyên một nắm trước sự ngạc nhiên của mọi người…Thì ra, một loại chim chuyên ăn ớt đã thải ra trúng hốc cây trên cao, nhờ mùa mưa, cây mọc, phát triển xanh tươi, cành lá xum xuê, dày đặc trái là trái…Vỡ lẽ, mọi người cùng cười chảy cả nước mắt.
          Được biết, đây là loại ớt có ở vùng này từ lúc nào không ai rõ, nhân giống bằng phương pháp đúc từ hột rất khó mọc. Tự rụng rồi tự mọc một cách tự nhiên hoặc do chim ăn thải ra đất, mọc dưới bóng râm trong vườn hoặc theo hàng rào. Trái ớt hiểm La Gàn được xếp vào loại “đặc sản”, tuy giá cao hơn các loại ớt khác nhưng hiếm khi thấy bán ngoài chợ, nó được các nhà hàng đặt mua trước. Khách du lịch “sành điệu” đòi cho được loại ớt này mới gọi thức ăn./.
(Còn nữa)
PhamDinhNhan

ĐI CHÙA HANG - Phần 4

Chùa Cổ Thạch còn là nơi lưu giữ được nhiều di sản có giá trị lịch sử, nhiều di sản văn hóa Hán Nôm, liễn, đối, hoành phi và những tài liệu có từ những ngày đầu thành lập Chùa, một số cổ vật có giá trị khác như: Đại Hồng Chung, Trống Sấm đều có niên đại từ thế kỷ thứ XIX. Để tưởng nhớ công lao của vị Thiền sư Bảo Tạng, Chùa lấy ngày 25 tháng 5 AL hàng năm làm ngày giỗ tổ. Vào ngày này hoặc những ngày lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan… chúng ta sẽ được chứng kiến không khí tưng bừng của hàng ngàn thiện nam, tín nữ tham gia lễ hội; nhà Chùa tổ chức cơm miễn phí cho khách hành hương với những món chay ngon miệng. Nếu ai không quen ăn chay, xin mời xuống các nhà hàng dưới chân núi, ở đây đủ món ăn chơi, trái cây đủ loại: xoài, chuối, cam, quýt, mít, ổi, me, cóc…, sơn hào hải vị: nghêu, sò, ốc, hến, tôm, cua, cá, mực… loại nào cũng có. Ngoài ra cũng có món bánh tráng mắm ruốc, mắm ruốc được giã với nhiều gia vị trong đó có tỏi, ớt, trông rất sạch sẽ và hấp dẫn. Ăn bằng cách múc 1 muỗng nhỏ mắm cho lên miếng bánh tráng nướng nhiều mè, bẻ một miếng nhỏ, quệt miếng mắm cho vào miệng, nhai giòn tang; cũng có người thích thưởng thức theo kiểu lấy bánh tráng mỏng, quệt mắm ruốc, bóp vụn bánh tráng nướng bỏ vào, cuốn tròn lại như ngón tay cái, rồi cắn, rồi nhai, rồi hít hà sau đó uống thêm một ly nước đá bào tức là cục đá lạnh được bào nhuyễn, xịt một chút xi-rô là tuyệt vời. Buổi sáng các quán dọc theo đường ra biển còn có nhiều món ăn sáng khác như mì quảng, hủ tíu, phở, bánh canh…
        Thời gian trôi nhanh thật, chưa thưởng ngoạn bao nhiêu mà mất hơn một buổi rồi, muốn chiêm ngắm cho hết có lẽ phải cả ngày. Tôi nghe nói bên Trung Quốc, có một khu vực với núi non trùng điệp, rừng cây bạt ngàn nguyên sinh, nơi đó tọa lạc trên 1.500 ngôi Chùa trong một diện tích vô cùng rộng lớn chẳng biết bao nhiêu mà nói, có những Chùa chỉ dùng để lưu trữ toàn bộ kinh Phật, có những bộ kinh cổ rất quý hiếm. Tôi nhẩm tính, muốn tham quan cho hết quần thể một ngôi Chùa phải mất ít nhất 2 ngày, vậy thì muốn chiêm bái toàn bộ khu vực này (không tính thời gian đi từ chùa này đến chùa kia) thì phải mất 3.000 ngày, tức là ít nhất trên 8 năm.

Từ đỉnh núi Linh Thứu nhìn ra bãi Cà Dược
          Đứng trên tầm cao của Chùa Hang, phóng tầm mắt ra xa, cả một vùng non nước hữu tình hiện ra choáng ngợp kỳ vỹ; thấp thoáng bãi biển Cà Dược, mũi La Gàn, các đồi cát nhấp nhô trãi dài theo bãi biển rất nên thơ; màu xanh của trời, của biển, của cây cỏ hòa trộn lẫn nhau làm tâm hồn ta trở nên thư thái một cách lạ lùng. Thế thì không lý do gì mà đã đến Cổ Thạch lại không chiêm ngưỡng những điều tuyệt diệu của biển ở đây.
          Theo con đường cũ, ta xuống núi, ra hướng biển; đại dương mênh mông rồi lắng lại bằng một bờ vịnh hình vòng cung với “một trời” sỏi là sỏi, đủ kích cỡ, nhỏ từ viên bi cho đến lớn bằng nắm tay, vì đủ loại kích cỡ nên gọi là cục sỏi cũng được, hòn sỏi cũng đúng mà viên sỏi cũng chẳng sai, hòn nào hòn nấy tròn lẳng, bóng láng, đủ màu sắc: trắng ngà, đen tuyền, nâu sẫm, tím than, xám chì, vàng nhạt, xanh lục, đỏ thẩm, … kể mãi không hết, nằm chồng chất, xếp từ lớp này lên lớp khác không biết dày bao nhiêu là thước tấc; hiếm nơi nào trên thế giới có bãi sỏi nhiều màu đến thế; có người gọi là bãi đá Cà Dược, người thì gọi bãi đá Cá Sấu (vì dáng dấp giống như con cá sấu khổng lồ đang nằm), người thì gọi là bãi đá bảy màu, tôi thì gọi là bãi sỏi “tùm lum màu” và nếu cứ để chân trần bước trên đá sẽ có cảm giác như được mát-xa cả lòng bàn chân; nghe nói nếu ngâm những viên sỏi trong dung dịch hóa chất (là hóa chất gì thì tôi chẳng rõ) màu sẽ ửng sáng lên và bóng một cách kỳ lạ . Nhiều người chở cả xe về trang trí nhà cửa nên gần đây người ta không cho lấy nữa, ta xin vài viên về làm kỷ niệm có lẽ không đến nỗi hẹp hòi không cho?
Bãi sỏi tùm lum màu
           Mũi La Gàn còn có hàng ngàn ghềnh, khộp, khe, hốc là nơi định cư lý tưởng của loài chim Hải âu; hàng năm cứ vào khoảng từ tháng giêng đến tháng bảy âm lịch là mùa các nục, cá cơm; hàng hà sa số chim Hải âu từ đẩu từ đâu kéo về nhập bầy với chim tại chỗ bay lượn, kiếm ăn theo luồng cá làm trắng cả một vùng non nước, í ới gọi nhau tạo ra những âm thanh rất là vui tai. Có người nói chim Hải âu là chim báo bão hoặc chim khí tượng, tôi thì gọi là chim “dự báo được mùa” bởi hễ nguồn cá dồi dào là chim về nhiều, ngư dân sẽ có những mẽ lưới bội thu. Điều ngạc nhiên là chim nhiều như thế nhưng không thấy bất cứ người dân địa phương nào săn bắt (kể cả mấy tay “bợm nhậu”), có lẽ ở đây có những quy định nghiêm khắc không viết ra giấy (còn gọi là luật bất thành văn) để bảo vệ loài chim? Cảm nhận được sự an toàn, chim càng ngày càng về “định cư” nhiều hơn nên còn được gọi là “thiên đường Hải âu” và cái vịnh hình vòng cung xinh xinh kia được gọi là “Vịnh Hải âu”. Về phía Tây Nam có một eo biển khá rộng với bãi cát vàng rực, sạch mịn, bờ dốc thoai thoải là bãi tắm an toàn lý tưởng nhất.
          Tháng trước, uống cà phê với anh bạn tại Sân Vườn khách sạn Bình Minh – Phan Thiết, anh ấy hỏi:
         - Ông đi Chùa Hang chưa?
         - (Hăm hở trả lời) Rồi. Đẹp lắm.
         - Ở đó có cái giếng tên là “giếng tiên”?
         - Đúng rồi, nước trong và mát ngọt.
         - Tôi đố ông, vì sao nó có tên là giếng tiên?
          Một thoáng bối rối,.. tịt, không trả lời được.
          - Vậy chứ ông nói tôi nghe vì sao tên là giếng tiên.
          - Tôi cũng không biết luôn ! hà…hà..hà…

        Trớt quớt !!! Đố mà không có đáp án.
          Bây giờ thì tôi biết rồi. Chuyện xưa kể rằng, trên tiên giới ấy sau những ngày vui kết hoa đăng…, nhàm chán với khung cảnh nhà trời, các tiên nữ rủ nhau lén Vương mẫu nương nương trốn xuống hạ giới tìm chốn ăn chơi, vào một đêm trăng sáng, phát hiện bãi tắm Cà Dược tuyệt đẹp, thế là các nàng “sà” xuống tung tăng bơi lội, nô đùa, tắm gội (nghĩ cũng lạ, chỉ có ban đêm trăng sáng tiên nữ mới xuống dương trần tắm gội, không nghe nói tiên nữ tắm ban ngày). Sau đó các nàng tiên đến cái giếng dưới chân Chùa uống nước, xối nước ngọt, ca hát thâu đêm suốt sáng, còn để lại những dấu chân trên đá đến ngày nay, nên từ đó cái giếng kia mới có tên là Giếng Tiên. (thích quá, có mấy nàng chẳng thèm về trời nữa, ở lại hạ giới. Cũng có mấy nàng dọc đường mê bắt bướm hái hoa, quên cả giờ giấc, về trễ, cổng trời đóng kín mít, phải quay lại trần gian, ở lại luôn). Nghe nói, sau đó Vương mẫu nương nương phát hiện được, bực tức lắm, quở trách: sao các ngươi đi mà không rủ ta lén Ngọc Hoàng đi với ? vì cái tội không rủ rê mà bị phạt 7 ngày liên tục không được ca múa, kể cả hát karaoke. Suốt một tuần, không đờn ca xướng hát, Điện Linh Tiêu vắng như Chùa Bà Đanh.
Xa xa là bãi tắm của các nàng tiên
(Còn nữa)
PhamDinhNhan

ĐI CHÙA HANG - Phần 3

Theo tài liệu, Chùa do thiền sư Bảo Tạng thuộc đời thứ 40 thiền phái Lâm Tế khai lập vào khoảng từ nửa đầu thế kỷ thứ XIX (1835 – 1836), ban đầu chỉ là một thảo am nhỏ, vách ván, lợp lá. Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo; đến thời Thiệu Trị, Chùa được xây dựng lớn cả về không gian lẫn nghệ thuật; các đời chủ trì kế tục đều có duy tu, bảo dưỡng, mở rộng, kiến tạo thêm nhiều công trình mới. Hiện nay toàn bộ ngôi Chùa có diện tích 1.200 m2, bao gồm: khu chánh điện, khu tam quan ngoại, gác chuông, lầu trống, nhà thiền, từ đường… và rất nhiều hang động ăn sâu vào núi, mỗi hang đều thờ Phật, hoặc Bồ Tát... Ta bắt đầu khám phá, chiêm ngắm một vài khu vực trong quần thể của Chùa:
          Qua cổng Tam Quan và một khoảng sân rộng là ngôi chùa chính, tương đối lớn được xây dựng quy mô, đây là chính điện thờ Phật tổ, ngày đêm khói hương nghi ngút, vào những ngày lễ, tết khách thập phương từ mọi miền đất nước đến chiêm bái, lễ Phật, người ra, kẻ vào nườm nượp; nội thất được trang trí rất đẹp với nhiều câu liễn, câu đối hoành phi có niên đại cổ được khảm bằng xà cừ, chạm khắc trên gỗ, ghép mực sành… Ra khỏi gian chính điện, đi theo hướng tay phải sẽ thấy tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên ngọn núi có tên là Linh Thứu, uy nghi, tự tại giữa không gian mênh mông nhìn ra biển khơi; tiếp tục xuống cấp, lên cấp, quanh co, khúc khuỷu theo hướng ngược kim đồng hồ sẽ tới một khe đá, ở đây có những tảng đá cao, to đứng sát vào nhau, chừa ra một khoảng khe nhỏ vừa đủ cho từng người đi qua, gió từ khe núi thổi ra mát rười rượi, khác với chân núi nóng bao nhiêu thì ở đây mát bấy nhiêu, cái mát dễ chịu vô cùng, tôi dám bảo đảm chưa có kỹ sư nào trên thế giới có thể chế ra được cái máy làm mát như cái mát ở đây; đi cả buổi thấy cũng hơi hơi mệt, phải chi chỗ này ít người qua lại, ngã mình xuống đánh một giấc “thăm thẳm chiều trôi” thì đã đời biết mấy. (ông bà ta gọi là đánh một giấc thẳng cẳng).
       Cũng một cái Chùa, người thì nói là Chùa Hang, người thì nói là Chùa Cổ Thạch không biết cái tên nào là đúng. Viết đến đây làm tôi lại nhớ đến câu chuyện có mấy em nhỏ thấy chiếc xe tăng đi qua, một em nói: Ô… chiếc xe tăng, em kia nói: sai rồi, xe bọc thép, em khác cãi lại: xe tàu bò, có một em im lặng từ nãy đến giờ lên tiếng: không đúng, đó là xe thiết giáp. Cứ thế cãi nhau um sùm củ tỏi. Cuối cùng thống nhất là “thiết vận xa”. Như thế này tên là Chùa Hang thì dễ hiểu rồi vì nó có nhiều cái hang, còn Chùa Cổ Thạch là vì sao? Phải tìm hiểu cho ra lẽ mới được.
           Gặp một người trung niên, có lẽ là dân địa phương, mặt mày chân tay đen như cột nhà cháy, có bộ ria mép dáng dấp “đại ca”.
         - Chào anh, anh cho tôi hỏi cái tên Chùa Cổ Thạch có nghĩa là gì?
         - Cái anh này hỏi mới lạ, thì Chùa Cổ Thạch tức là Chùa Cổ Thạch chứ gì. Thế mà cũng hỏi !!!
         (Hình như hai vợ chồng đang gây lộn, dịp may hiếm có để trút giận).
          Mà nghĩ cũng đúng, tên riêng mà, Chùa Cổ Thạch là Chùa Cổ Thạch chứ sao nữa; cũng như tên của ông PhamDinhNhan có nghĩa là ông đó chớ, chẳng lẽ là ông khác được sao?
          Chưa thỏa mãn, đi hỏi tiếp. Gặp một lão “tiền bối”, râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, lúc nào cũng giữ nụ cười trên môi.
          - Thưa Bác, cho cháu hỏi tên Chùa Cổ thạch có nghĩa là gì thế Bác?
          - À! Hình như: thạch là đá, cổ là cũ, chùa là chùa. Chùa Cổ Thạch có nghĩa là chùa bằng đá cũ.
          Lạ nhỉ? Đá cũng có đá mới đá cũ nữa sao? mà “hình như” thì chưa chắc lắm. Lại phải tiếp tục đi hỏi. Gặp một Hòa thượng, mặc áo chùng nâu, tay cầm xâu chuỗi, phốp pháp to tê như ông Lỗ Trí Thâm trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc nhưng nét mặt rất hiền từ, đôi mắt rất từ bi.
          - Bạch thầy, con là khách du lịch từ xa đến, muốn hỏi Thầy một việc?
          - Thí chủ có điều chi muốn hỏi?
          - Dạ thưa Thầy, tên Chùa Cổ Thạch có nghĩa là gì ạ?
          - Theo tài liệu, sách vở còn lưu lại trong Chùa, Lão nạp được biết Chùa Cổ Thạch có nghĩa là chùa cổ, chùa xưa được xây dựng bằng đá.
          À ra thế! Chùa cũ chứ không phải đá cũ; chỉ cần đọc Chùa Cổ… (nghĩ một chút) rồi mới tới Thạch thì có nghĩa là “Chùa xưa được xây dựng bằng đá” là đúng; còn nếu đọc Chùa… (nghĩ một chút) rồi mới tới Cổ Thạch thì có nghĩa “chùa đá cũ” là trật lất. Còn nếu đọc ba chữ Chùa Cổ Thạch liền một hơi không nghĩ là muốn hiểu sao thì hiểu. Rắc rối nhỉ! Phức tạp nhỉ! Thôi thì gọi quách là Chùa Hang cho nó chắc ăn.
          Nói đến việc đọc cho đúng làm tôi nhớ đến hồi đó, mỗi lần muốn thông báo điều gì là có cái ông alô, dùng miếng tôn kẽm cuốn thành cái loa để đi alô alô (bấy giờ chưa có phương tiện thông tin hiện đại như bây giờ). Một hôm, ông vừa cầm cái loa, vừa cầm tờ giấy đi alô:
          - Alô alô! Sáng mai là ngày………, các anh chị thanh niên nam nữ phải tham dự đầy đủ, khi đi trang phục gọn gàng, lịch sự: Nam bỏ áo trong quần Nữ…(đến đây hết trang giấy, lật qua mặt sau đọc tiếp) áo dài. Đọc mãi cũng không nhớ nỗi 2 chữ của trang sau. Cứ thế, từ đầu làng đến cuối xóm: …Nam bỏ áo trong quần Nữ…áo dài.
          Lại tiếp tục quanh co, khúc khuỷu, lên xuống; hai bên lối đi dọc theo vách núi là những hình tượng được chạm khắc trên đá miêu tả cuộc đời Đức Phật và các Chư vị Bồ tát, cũng có cả thầy trò Tam Tạng đi Tây thiên thỉnh kinh. Xen lẫn giữa những núi đá san sát nhau là những hang động; hang thờ Tổ khai lập Cổ Thạch Tự Bảo Tạng có tượng nhà sư và nhiều bài vị của các nhà sư khác có công lao xây dựng chùa đã viên tịch; hang thờ Phật Chuẩn Đề có tượng Phật 8 tay và và nhiều tượng cổ; Hang Tam bảo thờ 23 pho tượng Phật cổ với nhiều kích thước và niên đại khác nhau; các hang động khác cũng được kiến tạo phù hợp với điều kiện thờ phụng. Tiếp tục bước lên nhiều tam cấp sẽ gặp một hang động, muốn vào hang lại phải tiếp tục bước thêm mấy tam cấp nữa, hang này nằm ở độ cao nhất trong quần thể các hang; cửa hang rất hẹp, phải khom người xuống mới “chui” vào được (coi chừng đụng đầu), nhiều người vào đây đã bị đụng đầu rồi, tôi vô ý cũng bị cái “cốp”, may mắn là nhẹ nên không “xuất hiện cục u”; cho dù người ta có muốn cửa hang rộng thêm nhưng không được vì bị chắn bởi hai tảng đá vô cùng lớn, mà đục đẽo thì lại làm mất vẻ tự nhiên, hoang sơ; thôi có sao thì để vậy. Tuy cửa vào hang nhỏ, hẹp nhưng trong lòng hang vô cùng rộng, thờ rất nhiều Phật, Bồ tát mà tôi không biết hết.
Có đi vào từng hang đá mới cảm nhận hết sự trang nghiêm của những nơi thờ kính, mới thấy hết vẻ đẹp tự nhiên, huyền bí một cách lạ lùng. Tiếp tục đi về hướng mặt trời lặn là gác chuông, gian để trống, trên đường đi sẽ gặp 2 khối đá ước chừng nặng hàng chục tấn, gần như vuông vức, chồng lên nhau rất sít sao, sắc sảo, đẹp mắt tưởng như có bàn tay của những nghệ nhân điêu luyện đục, đẽo, ráp, nối (tôi không biết phải diễn tả làm sao cho các bạn hình dung được nét độc đáo của nó).
          Trong khu vực này, phía dưới chân Chùa có một cái giếng, tên là Giếng Tiên, nước trong vắt, ngọt lịm, mát lạnh, uống vào thấy trong người bớt mệt mỏi, nghe nói giếng không bao giờ hết nước kể cả những năm hạn hán, nguyên cả khu vực cây cối rũ lá vì thiếu nước nhưng giếng tiên thì không cạn chút nào… Và còn rất nhiều những cảnh quan, những hang động, những điều kỳ bí khác nữa mà miêu tả mãi đến ngày mai có lẽ cũng chưa hết. Cứ đi, rồi nghĩ mệt, rồi khám phá, rồi chiêm ngưỡng, rồi lại tiếp tục đi, loanh quanh, lên dốc, xuống dốc… lau mồ hôi, mệt quá! Nghỉ một chút, lại tiếp tục đi cho đến khi hết đi nỗi thì thôi!
(còn nữa)
PhamDinhNhan