Theo tài liệu, Chùa do thiền sư Bảo
Tạng thuộc đời thứ 40 thiền phái Lâm Tế khai lập vào khoảng từ nửa đầu thế kỷ
thứ XIX (1835 – 1836), ban đầu chỉ là một thảo am nhỏ, vách ván, lợp lá. Qua
nhiều lần trùng tu, tôn tạo; đến thời Thiệu Trị, Chùa được xây dựng lớn cả về
không gian lẫn nghệ thuật; các đời chủ trì kế tục đều có duy tu, bảo dưỡng, mở
rộng, kiến tạo thêm nhiều công trình mới. Hiện nay toàn bộ ngôi Chùa có diện
tích 1.200 m2, bao gồm: khu chánh điện, khu tam quan ngoại, gác chuông, lầu
trống, nhà thiền, từ đường… và rất nhiều hang động ăn sâu vào núi, mỗi hang đều
thờ Phật, hoặc Bồ Tát... Ta bắt đầu khám phá, chiêm ngắm một vài khu vực trong
quần thể của Chùa:
Qua cổng Tam Quan và một khoảng sân rộng là ngôi chùa chính, tương đối lớn được xây dựng quy mô, đây là chính điện thờ Phật tổ, ngày đêm khói hương nghi ngút, vào những ngày lễ, tết khách thập phương từ mọi miền đất nước đến chiêm bái, lễ Phật, người ra, kẻ vào nườm nượp; nội thất được trang trí rất đẹp với nhiều câu liễn, câu đối hoành phi có niên đại cổ được khảm bằng xà cừ, chạm khắc trên gỗ, ghép mực sành… Ra khỏi gian chính điện, đi theo hướng tay phải sẽ thấy tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên ngọn núi có tên là Linh Thứu, uy nghi, tự tại giữa không gian mênh mông nhìn ra biển khơi; tiếp tục xuống cấp, lên cấp, quanh co, khúc khuỷu theo hướng ngược kim đồng hồ sẽ tới một khe đá, ở đây có những tảng đá cao, to đứng sát vào nhau, chừa ra một khoảng khe nhỏ vừa đủ cho từng người đi qua, gió từ khe núi thổi ra mát rười rượi, khác với chân núi nóng bao nhiêu thì ở đây mát bấy nhiêu, cái mát dễ chịu vô cùng, tôi dám bảo đảm chưa có kỹ sư nào trên thế giới có thể chế ra được cái máy làm mát như cái mát ở đây; đi cả buổi thấy cũng hơi hơi mệt, phải chi chỗ này ít người qua lại, ngã mình xuống đánh một giấc “thăm thẳm chiều trôi” thì đã đời biết mấy. (ông bà ta gọi là đánh một giấc thẳng cẳng).
Qua cổng Tam Quan và một khoảng sân rộng là ngôi chùa chính, tương đối lớn được xây dựng quy mô, đây là chính điện thờ Phật tổ, ngày đêm khói hương nghi ngút, vào những ngày lễ, tết khách thập phương từ mọi miền đất nước đến chiêm bái, lễ Phật, người ra, kẻ vào nườm nượp; nội thất được trang trí rất đẹp với nhiều câu liễn, câu đối hoành phi có niên đại cổ được khảm bằng xà cừ, chạm khắc trên gỗ, ghép mực sành… Ra khỏi gian chính điện, đi theo hướng tay phải sẽ thấy tượng Quan Thế Âm Bồ Tát đứng trên ngọn núi có tên là Linh Thứu, uy nghi, tự tại giữa không gian mênh mông nhìn ra biển khơi; tiếp tục xuống cấp, lên cấp, quanh co, khúc khuỷu theo hướng ngược kim đồng hồ sẽ tới một khe đá, ở đây có những tảng đá cao, to đứng sát vào nhau, chừa ra một khoảng khe nhỏ vừa đủ cho từng người đi qua, gió từ khe núi thổi ra mát rười rượi, khác với chân núi nóng bao nhiêu thì ở đây mát bấy nhiêu, cái mát dễ chịu vô cùng, tôi dám bảo đảm chưa có kỹ sư nào trên thế giới có thể chế ra được cái máy làm mát như cái mát ở đây; đi cả buổi thấy cũng hơi hơi mệt, phải chi chỗ này ít người qua lại, ngã mình xuống đánh một giấc “thăm thẳm chiều trôi” thì đã đời biết mấy. (ông bà ta gọi là đánh một giấc thẳng cẳng).
Cũng một cái Chùa, người thì nói là Chùa
Hang, người thì nói là Chùa Cổ Thạch không biết cái tên nào là đúng. Viết đến
đây làm tôi lại nhớ đến câu chuyện có mấy em nhỏ thấy chiếc xe tăng đi qua, một
em nói: Ô… chiếc xe tăng, em kia nói: sai rồi, xe bọc thép,
em khác cãi lại: xe tàu bò, có một em im lặng từ nãy đến giờ lên
tiếng: không đúng, đó là xe thiết giáp. Cứ thế cãi nhau um sùm củ
tỏi. Cuối cùng thống nhất là “thiết vận xa”. Như thế này tên là Chùa Hang thì
dễ hiểu rồi vì nó có nhiều cái hang, còn Chùa Cổ Thạch là vì sao? Phải tìm hiểu
cho ra lẽ mới được.
Gặp một người trung niên, có lẽ là dân địa phương, mặt mày chân tay đen như cột nhà cháy, có bộ ria mép dáng dấp “đại ca”.
- Chào anh, anh cho tôi hỏi cái tên Chùa Cổ Thạch có nghĩa là gì?
- Cái anh này hỏi mới lạ, thì Chùa Cổ Thạch tức là Chùa Cổ Thạch chứ gì. Thế mà cũng hỏi !!!
(Hình như hai vợ chồng đang gây lộn, dịp may hiếm có để trút giận).
Mà nghĩ cũng đúng, tên riêng mà, Chùa Cổ Thạch là Chùa Cổ Thạch chứ sao nữa; cũng như tên của ông PhamDinhNhan có nghĩa là ông đó chớ, chẳng lẽ là ông khác được sao?
Chưa thỏa mãn, đi hỏi tiếp. Gặp một lão “tiền bối”, râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, lúc nào cũng giữ nụ cười trên môi.
- Thưa Bác, cho cháu hỏi tên Chùa Cổ thạch có nghĩa là gì thế Bác?
- À! Hình như: thạch là đá, cổ là cũ, chùa là chùa. Chùa Cổ Thạch có nghĩa là chùa bằng đá cũ.
Gặp một người trung niên, có lẽ là dân địa phương, mặt mày chân tay đen như cột nhà cháy, có bộ ria mép dáng dấp “đại ca”.
- Chào anh, anh cho tôi hỏi cái tên Chùa Cổ Thạch có nghĩa là gì?
- Cái anh này hỏi mới lạ, thì Chùa Cổ Thạch tức là Chùa Cổ Thạch chứ gì. Thế mà cũng hỏi !!!
(Hình như hai vợ chồng đang gây lộn, dịp may hiếm có để trút giận).
Mà nghĩ cũng đúng, tên riêng mà, Chùa Cổ Thạch là Chùa Cổ Thạch chứ sao nữa; cũng như tên của ông PhamDinhNhan có nghĩa là ông đó chớ, chẳng lẽ là ông khác được sao?
Chưa thỏa mãn, đi hỏi tiếp. Gặp một lão “tiền bối”, râu tóc bạc phơ, da dẻ hồng hào, lúc nào cũng giữ nụ cười trên môi.
- Thưa Bác, cho cháu hỏi tên Chùa Cổ thạch có nghĩa là gì thế Bác?
- À! Hình như: thạch là đá, cổ là cũ, chùa là chùa. Chùa Cổ Thạch có nghĩa là chùa bằng đá cũ.
Lạ nhỉ? Đá cũng có đá mới đá cũ nữa
sao? mà “hình như” thì chưa chắc lắm. Lại phải tiếp tục đi hỏi. Gặp một Hòa
thượng, mặc áo chùng nâu, tay cầm xâu chuỗi, phốp pháp to tê như ông Lỗ Trí
Thâm trong 108 anh hùng Lương Sơn Bạc nhưng nét mặt rất hiền từ, đôi mắt rất từ
bi.
- Bạch thầy, con là khách du lịch từ xa đến, muốn hỏi Thầy một việc?
- Thí chủ có điều chi muốn hỏi?
- Dạ thưa Thầy, tên Chùa Cổ Thạch có nghĩa là gì ạ?
- Theo tài liệu, sách vở còn lưu lại trong Chùa, Lão nạp được biết Chùa Cổ Thạch có nghĩa là chùa cổ, chùa xưa được xây dựng bằng đá.
- Bạch thầy, con là khách du lịch từ xa đến, muốn hỏi Thầy một việc?
- Thí chủ có điều chi muốn hỏi?
- Dạ thưa Thầy, tên Chùa Cổ Thạch có nghĩa là gì ạ?
- Theo tài liệu, sách vở còn lưu lại trong Chùa, Lão nạp được biết Chùa Cổ Thạch có nghĩa là chùa cổ, chùa xưa được xây dựng bằng đá.
À ra thế! Chùa cũ chứ không
phải đá cũ; chỉ cần đọc Chùa Cổ… (nghĩ một chút) rồi mới tới Thạch thì có nghĩa
là “Chùa xưa được xây dựng bằng đá” là đúng; còn nếu đọc Chùa… (nghĩ một chút)
rồi mới tới Cổ Thạch thì có nghĩa “chùa đá cũ” là trật lất. Còn nếu đọc ba chữ
Chùa Cổ Thạch liền một hơi không nghĩ là muốn hiểu sao thì hiểu. Rắc rối nhỉ!
Phức tạp nhỉ! Thôi thì gọi quách là Chùa Hang cho nó chắc ăn.
Nói đến việc đọc cho đúng làm tôi nhớ
đến hồi đó, mỗi lần muốn thông báo điều gì là có cái ông alô, dùng miếng tôn
kẽm cuốn thành cái loa để đi alô alô (bấy giờ chưa có phương tiện thông tin
hiện đại như bây giờ). Một hôm, ông vừa cầm cái loa, vừa cầm tờ giấy đi alô:
- Alô alô! Sáng mai là ngày………, các anh chị thanh niên nam nữ phải tham dự đầy đủ, khi đi trang phục gọn gàng, lịch sự: Nam bỏ áo trong quần Nữ…(đến đây hết trang giấy, lật qua mặt sau đọc tiếp) áo dài. Đọc mãi cũng không nhớ nỗi 2 chữ của trang sau. Cứ thế, từ đầu làng đến cuối xóm: …Nam bỏ áo trong quần Nữ…áo dài.
- Alô alô! Sáng mai là ngày………, các anh chị thanh niên nam nữ phải tham dự đầy đủ, khi đi trang phục gọn gàng, lịch sự: Nam bỏ áo trong quần Nữ…(đến đây hết trang giấy, lật qua mặt sau đọc tiếp) áo dài. Đọc mãi cũng không nhớ nỗi 2 chữ của trang sau. Cứ thế, từ đầu làng đến cuối xóm: …Nam bỏ áo trong quần Nữ…áo dài.
Lại tiếp tục quanh co, khúc khuỷu,
lên xuống; hai bên lối đi dọc theo vách núi là những hình tượng được chạm khắc
trên đá miêu tả cuộc đời Đức Phật và các Chư vị Bồ tát, cũng có cả thầy trò Tam
Tạng đi Tây thiên thỉnh kinh. Xen lẫn giữa những núi đá san sát nhau là những
hang động; hang thờ Tổ khai lập Cổ Thạch Tự Bảo Tạng có tượng nhà sư và nhiều
bài vị của các nhà sư khác có công lao xây dựng chùa đã viên tịch; hang thờ
Phật Chuẩn Đề có tượng Phật 8 tay và và nhiều tượng cổ; Hang Tam bảo thờ 23 pho
tượng Phật cổ với nhiều kích thước và niên đại khác nhau; các hang động khác
cũng được kiến tạo phù hợp với điều kiện thờ phụng. Tiếp tục bước lên nhiều tam
cấp sẽ gặp một hang động, muốn vào hang lại phải tiếp tục bước thêm mấy tam cấp
nữa, hang này nằm ở độ cao nhất trong quần thể các hang; cửa hang rất hẹp, phải
khom người xuống mới “chui” vào được (coi chừng đụng đầu), nhiều người vào đây
đã bị đụng đầu rồi, tôi vô ý cũng bị cái “cốp”, may mắn là nhẹ nên không “xuất
hiện cục u”; cho dù người ta có muốn cửa hang rộng thêm nhưng không được vì bị
chắn bởi hai tảng đá vô cùng lớn, mà đục đẽo thì lại làm mất vẻ tự nhiên, hoang
sơ; thôi có sao thì để vậy. Tuy cửa vào hang nhỏ, hẹp nhưng trong lòng hang vô
cùng rộng, thờ rất nhiều Phật, Bồ tát mà tôi không biết hết.
Có đi vào từng hang đá mới cảm nhận
hết sự trang nghiêm của những nơi thờ kính, mới thấy hết vẻ đẹp tự nhiên, huyền
bí một cách lạ lùng. Tiếp tục đi về hướng mặt trời lặn là gác chuông, gian để
trống, trên đường đi sẽ gặp 2 khối đá ước chừng nặng hàng chục tấn, gần như
vuông vức, chồng lên nhau rất sít sao, sắc sảo, đẹp mắt tưởng như có bàn tay
của những nghệ nhân điêu luyện đục, đẽo, ráp, nối (tôi không biết phải diễn tả
làm sao cho các bạn hình dung được nét độc đáo của nó).
Trong khu vực này, phía dưới chân
Chùa có một cái giếng, tên là Giếng Tiên, nước trong vắt, ngọt lịm, mát lạnh,
uống vào thấy trong người bớt mệt mỏi, nghe nói giếng không bao giờ hết nước kể
cả những năm hạn hán, nguyên cả khu vực cây cối rũ lá vì thiếu nước nhưng giếng
tiên thì không cạn chút nào… Và còn rất nhiều những cảnh quan, những hang động,
những điều kỳ bí khác nữa mà miêu tả mãi đến ngày mai có lẽ cũng chưa hết. Cứ
đi, rồi nghĩ mệt, rồi khám phá, rồi chiêm ngưỡng, rồi lại tiếp tục đi, loanh
quanh, lên dốc, xuống dốc… lau mồ hôi, mệt quá! Nghỉ một chút, lại tiếp tục đi
cho đến khi hết đi nỗi thì thôi!
(còn nữa)
PhamDinhNhan






